Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 06:19 GMT+7

28 năm gieo chữ giữa đại ngàn

Biên phòng - Giữa chốn đại ngàn thâm u, dân bản vẫn truyền tai nhau câu chuyện về một cô giáo miền xuôi tình nguyện lên non cắm bản hơn 1/4 thế kỷ. Điều đặc biệt là “câu chuyện cổ tích” thời hiện đại ấy vẫn đang được nhân vật chính viết tiếp hồi kết có hậu.

 55410c.gif
Giờ lên lớp của cô Phan Thị Pháp. Ảnh: Tây Long
Ngọn đèn giữa đại ngàn

Vượt dòng Đắkrông, rồi tiếp tục lặn lội theo lối mòn sâu hun hút giữa đại ngàn, thêm ba lượt lội suối và hai lần vượt núi..., chúng tôi mới đặt chân đến bản Khe Ngài (xã Đắkrông, huyện Đắkrông, tỉnh Quảng Trị). Nơi đây, bà con vẫn ngày đêm kể cho nhau nghe câu chuyện về một cô giáo miền xuôi tình nguyện lên non cắm bản trong suốt 28 năm ròng. “Nàng tiên” trong “câu chuyện cổ tích” thời hiện đại ấy cũng chính là người con dâu hiền thảo của bản Khe Ngài, cô giáo Phan Thị Pháp (SN 1962).

Bản Khe Ngài, cái tên mà cách đây hơn 30 năm mỗi khi nhắc đến ai cũng phải rùng mình, bởi lời đồn thổi kỳ bí về rừng ma, ngọn núi Ngài linh thiêng và cả những hủ tục đáng sợ. Nhiều giáo viên cơm đùm, gạo nắm lên đây nhưng đều vội vã ra đi để lại bao nỗi trăn trở. Thế nhưng, có một cô giáo tuổi đôi mươi đã lặn lội từ tỉnh Quảng Bình lên bản Khe Ngài dựng trường, mở lớp rồi “ăn đời ở kiếp” với dân bản. Chính tình thương, sự can đảm và “bồ chữ” của cô đã giúp người Vân Kiều tìm thấy “con đường sáng”.

21 tuổi, cầm tấm bằng tốt nghiệp trường Trung học Sư phạm Bình Trị Thiên trên tay, cô Phan Thị Pháp thấm nỗi vất vả của những gia đình vì nghèo kéo cái chữ, cô quyết tâm đến mảnh đất nào cần giáo viên nhất, nơi người dân “khát chữ” nhất... Thế là, cô hăm hở tình nguyện lên huyện Hướng Hóa (sau này tách ra thành hai huyện: Hướng Hóa và Đắkrông, thuộc tỉnh Quảng Trị) để dạy học, bỏ lại sau lưng cơ hội công tác gần nhà và những lời can ngăn.

Ngày đầu tiên đặt chân đến Khe Ngài, cô giáo Phan Thị Pháp sững sờ bởi chẳng thấy... trường lớp, học trò đâu. Đón cô là những con người gầy gò, đen đúa, nói tiếng Kinh như “nhặt thóc”... Duy chỉ đôi mắt họ là để lại ấn tượng mạnh đến lạ lùng. Sau này, cô mới nhận ra chính đôi mắt của dân bản đã níu chân cô ở lại. Đôi mắt ấy đau đáu niềm hy vọng về sự đổi đời nhờ con chữ.

Bữa cơm đầu tiên ở bản Khe Ngài cũng chính là tiết học tiếng Vân Kiều vỡ lòng của cô Pháp. Chiếc A Điêng (giống như chiếc mâm của người Kinh - PV) với cơm trắng và muối ớt dọn ra, mọi người từ tốn đẩy đến trước mặt cô giáo và cười hiền bảo: “Tổ cha cô”. Cô gái miền xuôi ngớ người chẳng hiểu vì sao dân bản lại “mắng” mình. Đang lấy làm lạ thì lại tiếp tục nghe nhiều tiếng “Tổ cha, tổ cha” chân thành khác. Sau khi một thanh niên bản lõm bõm biết tiếng Kinh giải thích: “Tổ cha” tiếng Vân Kiều là mời cô giáo chấm cơm vào bát muối để ăn. Cô Pháp run lên vì xúc động. Ngay trong bữa cơm, điều đầu tiên cô nghĩ đến là phải... học tiếng cấp tốc. Thế rồi, ngày ngày, dân bản lại cười hiền từ khi thấy cô giáo miền xuôi bám riết lũ trẻ để học tiếng Vân Kiều và miệng cứ lẩm nhẩm như trẻ lên ba: “Pỉ là mẹ, Pả là cha, beng là bánh, đớ là nước...”.

Thu thập kha khá vốn tiếng Vân Kiều, cô Pháp vận động thanh niên bản vào rừng đốn gỗ, đánh tranh, chặt tre, đan phên để dựng trường. Sau đó, cô lại cặm cụi đến từng nhà động viên dân bản cho lũ trẻ đi học. Buổi đầu, phòng học không đủ chỗ để chứa... học sinh. Bởi nhà nào có con em đi học cũng lục đục đến lớp xem cô dạy lũ trẻ điều gì. Thế mà, chỉ sau vài ngày, số học sinh giảm xuống phân nửa, rồi chỉ lác đác còn vài em. Gặng hỏi mãi, một số người mới thật thà trả lời: “Học chữ khó hơn... đi rẫy. Với lại, phải cho lũ trẻ ở nhà để giữ em nữa chứ”. Vỡ lẽ, cô Pháp ngay lập tức đổi mới cách dạy: “Mỗi ngày, mình chỉ dạy hai chữ, một con số đến lúc nào học sinh nhớ thật kỹ thì chuyển sang bài khác và nâng cao hơn”. Bên cạnh đó, cô còn cho phép học trò đem em đến lớp. Nhiều khi cô Pháp đảm nhiệm luôn trọng trách... trông trẻ để học sinh có thể yên tâm làm bài.

Chuyện cô giáo miền xuôi lên non dạy điều hay, lẽ phải nhanh chóng lan truyền khắp đại ngàn. Dân các bản khác vượt núi đem con em đến giao tận tay cô Pháp. Ngày dạy chữ cho lũ trẻ, tối đến cô lại gắn bó với lớp học bên ánh đèn dầu leo lắt để xóa mù chữ cho phụ huynh.

Sau 2 năm, phong trào học tập tại bản Khe Ngài dần ổn định, cô Pháp lại được tăng cường đến các thôn bản xa xôi hơn như Tà Lêng, Vùng Kho, Xa Lăng... để dựng trường, mở lớp. Ròng rã 5 năm trời, cô đặt nền móng cho hơn 10 điểm trường trên địa bàn. Lúc cô rời khỏi bản cũng chính là khi người dân đã quen mặt chữ, biết tiếng Kinh, việc đến trường đã trở thành nhu cầu...

Nàng dâu quý của bản Khe Ngài

Ròng rã 6 năm gắn bó với nghiệp gieo chữ, cô Pháp không đụng đến chiếc gương. Mỗi lần tắm suối, thấy tóc rụng từng mảng, gương mặt vàng vọt in bóng nước..., cô giật thột nhớ lại ngày xưa ai cũng khen mái tóc dài và làn da trắng của mình. Thế nhưng, cô mau chóng vượt qua những phút yếu lòng như vậy và lại cần mẫn với sự nghiệp trồng người.

Điềm báo không hay về sức khỏe bất ngờ đến, cô Pháp mắc chứng bệnh quái kỳ, người khô đét, mắt và da vàng sậm như củ nghệ... Dân bản cõng cô vượt sông, lặn lội ra tận đường quốc lộ rồi chặn đầu xe để xin đưa cô đến bệnh viện. Mấy tháng ròng được chữa trị ở bệnh viện bằng thuốc tây kèm với thuốc “giấu” của dân bản, cô Pháp mới bình phục. Chỉ cần thế, cả gia đình buộc cô phải nghỉ việc, “về quê làm ruộng cũng đành”. Nhưng được vài hôm, cô lại trốn lên với bà con. Cô Pháp tâm sự: “Ở nhà mà mình cứ chong chong nghĩ đến ngày mai của dân bản. Ai sẽ thay mình giúp bà con đỡ khổ? Mình từng dặn lòng sẽ xem bản làng là gia đình, coi bà con là ruột thịt rồi mà. Không thể để một trận ốm làm thay đổi tấm lòng được”.

 46110b.gif
Bếp lửa của vợ chồng cô Pháp luôn ấm áp, hạnh phúc.

 

Trở lại làm “cư dân” chốn núi rừng, cô giáo Phan Thị Pháp tiếp tục trải qua hàng chục lần đối mặt với tử thần. Tính sơ sơ là 6 trận ốm thập tử nhất sinh và 4 lần suýt chết vì bị nước lũ cuốn. Những ngày tháng gian khổ đến tận cùng giúp cô Pháp hiểu thêm tấm lòng của dân bản, đặc biệt là tình cảm của anh Hồ Văn Vui (lúc ấy là Bí thư chi đoàn thôn Khe Ngài), người đã hôm sớm bên cô từ buổi dựng trường, rồi lặn lội theo cô đến các bản làng để gieo chữ...

Năm 1988, lần đầu tiên ở chốn núi rừng miền Tây tỉnh Quảng Trị, đám cưới đặc biệt đã diễn ra giữa một cô giáo miền xuôi và một chàng trai Vân Kiều. Đây là hồi kết đẹp như mơ sau 5 năm đôi bạn trẻ đấu tranh vượt mọi sự cấm cản của gia đình cũng như quan niệm, hủ tục lạc hậu. Sau đám cưới, cô Pháp và chồng dựng một ngôi nhà nhỏ, như “lời cam kết” sẽ ăn đời, ở kiếp với dân bản Khe Ngài.

Từ đây, một trang mới trong cuộc đời cô giáo Phan Thị Pháp mở ra. Vừa là giáo viên, vừa là dâu con của bản làng, cô nhân đôi quyết tâm cùng dân bản đi đến “con đường sáng”. Bản thân người con gái miền xuôi này cũng lên rẫy làm việc quần quật như một nàng dâu Vân Kiều. Trải qua nhiều mùa rẫy, nàng dâu đặc biệt này đã giúp bà con dần thay đổi quan niệm sản xuất, trồng trọt. Xưa nay, người Vân Kiều ở bản Khe Ngài luôn coi cây lúa là “Mẹ”. Thế nên, họ chỉ dám thu hoạch lúa bằng cách dùng tay hái từng bông. Trước thực tế ấy, cô Pháp tiên phong chăm sóc một đám ruộng và gặt hái bằng liềm. Năm ấy, gia đình cô thu hoạch lúa nhiều nhất bản, cô cũng chẳng bị lời nguyền gây ra bệnh tật gì. Thấy vậy, bà con liền nhờ cô Pháp bày vẽ cách chăm trồng và thu hoạch lúa như dưới xuôi. Cứ thế, các quan niệm, hủ tục lạc hậu được cô và dân bản dần dần đẩy lùi. Đặc biệt, cô còn “nổi tiếng” là người đem Tết Nguyên đán đến với dân bản.

Dù được “thần tượng” là nàng tiên của bản Khe Ngài, cô giáo Phan Thị Pháp vẫn đặt trọng trách người vợ, người mẹ, người con dâu lên hàng đầu. Cô chăm sóc ông Hồ Thiết (107 tuổi, bố chồng cô) nằm liệt giường suốt mấy chục năm nay mà chẳng hề ca thán. Hai người con của vợ chồng cô Pháp cũng được nuôi dạy cẩn thận. Hiện tại, em Hồ Anh Tuấn (SN 1989) là sinh viên trường Đại học Sư phạm Huế. Cô con gái út Hồ Thị Hồng Nhung đã học lớp 8.

Đến bản Khe Ngài hôm nay, nhiều người sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi thấy một ngôi trường khang trang nằm trên đỉnh đồi cao nhất. Ngày ngày, lời cô giáo giảng hòa cùng tiếng học sinh ê a đọc bài như một dàn đồng ca vang vọng khắp đại ngàn. Thanh âm trong trẻo ca ngợi sự đổi mới này cũng là hồi kết có hậu của câu chuyện cổ tích được viết bởi cô giáo - nàng dâu của bản Khe Ngài.

Tây Long

Bình luận

ZALO