Biên phòng - Thấm thoắt đã 30 năm trôi qua kể từ ngày học viên sỹ quan Công an Nhân dân Vũ trang (CANDVT) khóa 10 (K10) ra trường. 30 năm rèn luyện và phấn đấu, học viên K10 luôn tự hào về nỗ lực vượt khó, ý chí vươn lên và sự trưởng thành qua mỗi bước đi của từng cá nhân.
Năm tháng qua đi nhưng những kỷ niệm xưa dưới mái trường thân yêu luôn được khắc sâu trong tâm trí của mỗi chúng tôi, những học viên K10. Xa thầy, xa mái trường đã tròn 30 năm, thật bồi hồi, xúc động khi chúng tôi được gặp lại nhau, cùng nhau ôn lại những kỷ niệm, những năm tháng gian lao, vất vả nhưng thắm đượm tình nghĩa thầy trò và đồng đội.
Còn nhớ, ngày 1-3-1978, khóa đào tạo sỹ quan CANDVT khai giảng trong niềm phấn khởi của chúng tôi - 320 chàng trai, hầu hết đã qua vài năm tuổi lính. Khai giảng đúng vào lúc xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam, tình hình biên giới phía Bắc đang ngày càng căng thẳng nên điều kiện sinh hoạt, học tập của chúng tôi vô cùng khó khăn. Nhiều đồng chí gia đình ở ngay trong vùng chiến sự, hoàn cảnh có nhiều khó khăn nhưng giữ bản lĩnh vững vàng, quyết tâm tập trung học tập tốt. Có thể kể đến đồng chí Vàng Thèn Quẩy (Hà Giang), Hoàng Văn Sự, Lý Văn Dậu (Cao Bằng); Hoàng Văn Khèn (Lạng Sơn); Trương Văn Lào (Lai Châu)...
| |
Cán bộ, chiến sĩ đồn BP Y Tý, Lào Cai tuần tra bảo vệ an ninh biên giới. Ảnh: Vĩnh Cát |
Tình hình hai đầu biên giới diễn biến phức tạp đã đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới cho K10. Để phù hợp với tình hình thực tế ở các tuyến biên giới, chương trình học của chúng tôi được tăng thêm thời lượng học các môn quân sự. Được sự chỉ đạo chặt chẽ, chuyển hướng kịp thời chủ trương đào tạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, sự điều hành trực tiếp của Ban Giám hiệu nhà trường, chúng tôi luôn trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng, “coi thao trường như chiến trường”; đề cao kỷ luật, nắm vững những kiến thức cơ bản về lý luận, nghiệp vụ trình độ kỹ, chiến thuật đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ, bảo vệ các mục tiêu nội địa, các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới trong điều kiện có chiến tranh, nhất là tuyến biên giới phía Bắc.
Địa điểm học liên tục phải thay đổi, thời gian học kéo dài tới 3 năm rưỡi (đây là khóa có thời gian học dài nhất so với các khóa khác). Lương thực, thực phẩm khan hiếm, chúng tôi vừa phải học tập trên giảng đường, rèn luyện trên thao trường vừa phải tăng gia sản xuất, hành quân dã ngoại hàng ngày đường để lao động sản xuất giúp dân. Nhiều bữa phải ăn bo bo thay cơm, quần áo mặc không đủ ấm... Khó khăn, thiếu thốn trăm bề như vậy nhưng chúng tôi không hề nhụt chí. Những ngày học tập ở trường thực sự là quãng thời gian rèn đức, rèn tài, rèn ý chí, tôi luyện cốt cách của mỗi cá nhân.
Kỷ luật nhà trường rất nghiêm, chương trình học tập nặng, lao động tăng gia sản xuất vất vả trong khi bụng luôn đói, nhưng tất cả chúng tôi đều nỗ lực tu dưỡng, đoàn kết, giúp đỡ, chia bùi sẻ ngọt cho nhau. Phong trào học tập của học viên khóa 10 luôn sôi nổi. Nhiều học viên phải thắp đèn dầu, thức thâu đêm cùng trang sách. Các học viên học khá giỏi luôn nhiệt tình, sẵn sàng giúp đỡ các bạn học yếu hơn, nhất là các bạn người dân tộc ít người. Do sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình, một số học viên không theo hết khóa học, khi ra trường K10 còn 286 học viên tốt nghiệp sỹ quan. Trong số 286 học viên tốt nghiệp có 100 học viên được thăng quân hàm trung úy (chiếm 34,96%), là khóa học đầu tiên được quan tâm phong trung úy với tỉ lệ cao. Số còn lại là sỹ quan cấp thiếu úy, số sỹ quan chuẩn úy rất ít (chiếm 1,3%).
Sỹ quan K10 ra trường vào lúc chiến tranh vừa đi qua, nhưng khói lửa còn bao trùm trên các tuyến biên giới phía Bắc. Tập kích nhỏ lẻ từ bên ngoài còn liên tiếp xảy ra trên tuyến biên giới Tây Nguyên và Tây Nam. Tiếng súng còn râm ran chỗ này, chỗ khác, an ninh trật tự ở địa bàn khu vực biên giới nhiều nơi nóng bỏng. Trước tình hình đó, hầu hết sỹ quan K10 ngay sau khi ra trường đã có mặt nơi tuyến đầu bảo vệ biên cương, hải đảo Tổ quốc. Do môi trường chiến đấu, công tác ác liệt, đầy khó khăn, gian khổ, sỹ quan K10 đã có hàng chục đồng chí anh dũng hy sinh trong khi chỉ huy tuần tra bảo vệ biên giới Tổ quốc, điển hình như Thiếu úy Nguyễn Văn Hán, BĐBP Hoàng Liên Sơn (nay là BĐBP Lào Cai).
Có người mang thương tật suốt đời như Thiếu tá Võ Trọng Điểm (BĐBP Kon Tum), Thiếu úy Trần Văn Lanh (BĐBP Quảng Ninh). Nhiều đồng chí đã lập chiến công và thành tích xuất sắc được tặng thưởng huân, huy chương của Nhà nước, kỷ niệm chương, bằng khen của các bộ, ban ngành, đoàn thể Trung ương, được công nhận chiến sỹ Quyết thắng, chiến sỹ thi đua của các lực lượng vũ trang nhân dân.
Qua 30 năm ra trường công tác, trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, lớp sỹ quan ngày ấy giờ đã trưởng thành. Nhiều người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được giải quyết chính sách trở về với đời thường hoặc chuyển ngành theo quy định của Nhà nước. Một số khác về địa phương tham gia các cơ quan dân cử hoặc hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh. K10 giờ còn 45 người đang công tác trong lực lượng Quân đội và Công an. Trong đó, nhiều đồng chí giữ cương vị chủ trì ở đơn vị công tác như Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh, Tư lệnh Cảnh vệ Bộ Công an; Đại tá Nguyễn Đức, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy BĐBP; Đại tá Phạm Văn Tiệp, Cục phó Cục Hậu cần; Đại tá Nguyễn Trọng Thường, Chỉ huy trưởng BĐBP Hà Tĩnh; Đại tá Nguyễn Võ Văn Ao, Chính ủy BĐBP Đồng Tháp...
“Lò luyện” biên phòng đã giúp cho học viên K10 có thêm bản lĩnh chính trị, nhiệt huyết cách mạng, lòng quả cảm, tính nhạy bén để mỗi cá nhân vững vàng nơi biên cương, hải đảo, vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Dù công tác, chiến đấu ở bất cứ môi trường nào chúng tôi luôn nhớ tới các đồng chí, đồng đội, cũng không quên được những người thầy đã hết lòng vì học viên như thầy Bồng, thầy Huệ, thầy Liên...; những cán bộ khung nghiêm khắc nhưng chân tình, cởi mở như đồng chí Ngô Đản, Trịnh Thư Hùng...; những đồng chí cán bộ quản lý và các đồng chí phục vụ đã giúp đỡ chúng tôi tận tình, chu đáo trong quá trình học tập; những anh nuôi, chị nuôi đã chăm lo cho chúng tôi cơm ngon, canh ngọt. Chúng tôi vô cùng biết ơn công lao to lớn của đội ngũ giáo viên, quản lý học viên nhà trường, các thầy một lòng một dạ “vì học viên thân yêu” đã truyền cảm những kiến thức tinh túy nhất cho học viên và sự động viên, khích lệ của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh.
30 năm qua, mỗi lần gặp mặt, chúng tôi cùng ôn lại kỷ niệm của một thời để nhớ, bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo, biết ơn nhà trường, cũng là dịp học hỏi, động viên, giúp đỡ nhau trong bước đường phía trước. Mong rằng, mỗi thành viên K10 dù mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, mỗi cương vị khác nhau, có thể xa cách về địa lý, nhưng tình cảm đồng chí, đồng đội vẫn luôn bền chặt. Chúng tôi tin tưởng chắc chắn rằng sỹ quan K10 CANDVT không chỉ là niềm vinh dự tự hào của mỗi học viên mà còn là niềm tin yêu, cảm mến của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, của Học viện Biên phòng các khóa tiếp sau.







