Biên phòng - Nếu như không có cơn lũ quét kinh hoàng xảy ra ở hai xã vùng cao Du Tiến, Du Già (huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang), cách đây hơn 8 năm, chắc gì tôi đã dám vượt qua ngần ấy đồi, suối, đèo, dốc để có thể đến được vùng cao nguyên đá xa ngái ấy. Và đến rồi, tôi đã biết được rằng, thiên nhiên thật hiền hòa nhưng cũng vô cùng hung tợn. Biết rồi, trong tâm khảm tôi đã hằn một vết sâu để ghi nhớ thời khắc mình có mặt tại "bãi chiến trường" khủng khiếp do "thần núi" gây ra sau đúng 24 giờ khi tin dữ về một đại tang đã xảy ra ở mảnh đất này lan nhanh ra trong cả nước.
![]() |
Xã vùng cao Du Tiến nhìn từ trên cao. |
Tất cả diễn ra trong chừng vài chục phút, toàn bộ 18 căn nhà, nơi cư ngụ của khoảng 100 người, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, Tày cùng ngôi trường hai tầng, 8 phòng học của xã Du Tiến đổ sập xuống, làm 48 người chết và 19 người bị thương. Riêng bản Lý có 26 người bị "thần núi" cướp đi sinh mạng. Phần lớn trong số đó chết ngay khi còn đang ngủ, nghĩa là chết mà không hề hay biết mình phải chết... Bản có vẻn vẹn mấy chục hộ thì 18 nóc nằm ven suối hoàn toàn biến mất. Có một số người cũng bị lũ cuốn đi, nhưng may mắn thoát được do mắc lại trong các bụi cây. Hết thảy họ đều bị thương khá nặng và được dân bản khiêng về Trung tâm Y tế xã để cứu chữa...
Trong nỗi đau chung, tội nghiệp cho anh lính vừa xuất ngũ Nguyễn Văn Hơi. Cả nhà anh có 9 người thì chỉ còn mình anh sống sót, 8 người còn lại từ mẹ, vợ, anh, chị, em, các cháu nhỏ đều đã bị vùi lấp, chết trong lũ. Bây giờ, anh không còn dám ở lại trên mảnh đất cũ mà chuyển qua một quả núi cách đó gần cây số sinh sống như để tránh xa nơi tang thương...
Nhoáng cái mà đã hơn 8 năm, lần này, tôi trở lại vùng rốn lũ quét với một tâm lý khác. Trở lại để thấy "bản trắng" - như cách gọi tên bản Lý của các đồng nghiệp năm nào đang "hồi sinh mạnh mẽ" như miêu tả của một nữ phóng viên trong tòa soạn vừa từ nơi đây trở về sau một chuyến công tác lên mảnh đất này.
Theo lộ trình cũ, từ Hà Giang, tôi quyết định ngược 150km đường dốc đá, vượt cổng trời, băng ngầm trở lại bản Lý. Hai bên đường, xen giữa những lô nhô đá xám tai mèo là những thửa ruộng rực rỡ hoa tam giác mạch. Nhưng đoạn đường chỉ hơn 40km từ xã Mậu Duệ vào xã Du Tiến chẳng khác 8 năm trước là bao, vẫn dốc đứng cheo leo, gấp khúc liên tục, lổn nhổn những đá và đá. Trên chiếc xe máy dã chiến bò lên hết con dốc cuối cùng, tôi nhìn thấy dưới chân núi có mấy chục mái nhà sàn mọc lum xum xung quanh một con suối. Cũng như những chuyến công tác vùng cao khác, lần này, tôi cảm thấy thực sung sướng. Đơn giản vì có nhà sàn là có bản, là có một bữa tối no nê bên bếp lửa, là được nhúng hai bàn tay tím tái vì cái lạnh miền sơn cước vào một chậu nước nóng...
Chiều muộn, bảng lảng những làn khói mỏng như khói sương lan ra từ những mái nhà sàn. Vậy là đã trọn một ngày lên dốc xuống dốc, đã có hàng chục sườn núi, dốc đá bị khuất phục, rốt cuộc tôi đã đến được nơi cần đến là căn nhà khá bề thế của anh Nguyễn Văn Phát, Trưởng bản Lý. Vừa gặp, sau cái bắt tay rất chặt và ấm nóng, lại còn lắc lắc mấy cái theo thói quen của người vùng cao nguyên đá, anh Phát đã nhận ra người quen cũ. Anh bảo, vào mùa sương như thế này, người ta phải nghe độ sâu của vực qua việc ném một hòn đá xuống đó. Còn khoảng cách từ bản nọ sang bản kia, người ta không tính bằng cây số mà bằng ngày đường đi bộ. "Về khoản đi bộ, đồng bào ở đây bao giờ cũng ăn đứt người Kinh khỏe nhất. Họ leo núi quen đến mức nếu đi đường bằng là mỏi chân..." - Anh Phát nói vui rồi hướng dẫn tôi vào căn phòng mà vợ con anh vừa dọn sẵn cho "người dưới xuôi".
Bữa cơm tối dọn bên bếp lửa, chia làm hai mâm. Mâm dành cho khách và những người đàn ông trong nhà, có thêm ông Cừ Mí Dương, Bí thư chi bộ bản Lý, nguyên Chủ tịch UBND xã Du Tiến. Mâm kia dành cho phụ nữ. Cứ nhìn bữa cơm thì biết, xem ra, cơ chế thị trường đã len lỏi khá sâu vào cái nơi heo hút này, với những mỳ chính, nước mắm, bột nêm cùng nhiều thứ gia vị thường hay được quảng cáo trên ti vi... Một cuộc sống tự cung tự cấp gần như hoàn toàn cách đây gần chục năm mà tôi từng có dịp trải nghiệm đã bị phá vỡ. Sản phẩm của công nghiệp, của miền xuôi không còn chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Nghe tôi "phát biểu" về chuyện này, ông Cừ Mí Dương bảo, cách đây chưa lâu, "thị trường" ở bản Lý nói riêng, xã Du Tiến nói chung, ngoài muối, dầu, có thêm cái máy phát điện nhỏ, cái bóng điện, cái rađiô bằng bàn tay và chỉ có thế. Muốn mua những thứ này, người ở đây phải đi bộ xuống tận trung tâm huyện Yên Minh. Nói là mua, nhưng thực ra là người ta chỉ đổi. Đổi thóc, đổi gà lấy dầu, muối. Đổi trâu, bò lấy những thứ đắt tiền hơn. Mà khó khăn không chỉ có vậy. Ngay trong bữa cơm, tôi được nghe kể, mươi năm trước, với người Du Tiến, có một "chức danh" thường không thể thiếu trong đời sống tâm linh của mỗi bản, đó là thầy mo - người chịu trách nhiệm cúng ốm, đuổi ma quỷ cho dân, nắm giữ thần của bản. Về nguyên tắc, những ai có thần nhập vào thì mới có thể trở thành "mo" được. Tất cả người trong bản ốm đau đều do một tay thầy mo lo thông qua lễ cúng ốm rườm rà.
Bây giờ, vai trò của thầy mo đã mờ nhạt lắm. Người dân đã tin trạm xá hơn, đơn giản vì tiến bộ xã hội - theo đúng nghĩa, đang hiện diện ở nơi này ngày càng "đậm đặc"... "Cả bản mình rất vui vì được xã chọn xây dựng điểm nông thôn mới. Chắc mai mốt, nhắc đến bản Lý, người ta sẽ nói về một điểm sáng về nông thôn mới, chứ không hẳn là nhớ về trận "đại hồng thủy" đã xóa sổ bản và cướp đi mấy chục mạng người...". Trưởng bản Nguyễn Văn Phát vừa rót chén rượu cuối cùng của bữa cơm đãi khách miền xuôi, vừa tuyên bố đầy tự hào như thế...
![]() |
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa mới chiếu tia sáng đầu tiên xuống mặt nước suối Lý, đã thấy Bí thư chi bộ Cừ Mí Dương có mặt ở nhà Trưởng bản Nguyễn Văn Phát. Ông bảo, đến sớm để giới thiệu với khách miền xuôi thấy được sự đổi mới đáng tự hào trong cuộc sống của 33 hộ dân "bản trắng" năm nào.
Theo ông Dương, ngay sau thảm họa đổ ập lên đầu người dân bản Lý, chính quyền các cấp, người dân trong cả nước cùng hướng về bản Lý để chia sẻ đau thương, mất mát, cùng chung tay góp tiền, góp của, góc sức để giúp bà con sớm ổn định cuộc sống và quan trọng hơn là để những người gặp nạn không đơn độc và thấy ấm lòng hơn. Chỉ một thời gian ngắn sau, 18 hộ dân nhanh chóng được di chuyển lên nơi ở mới cao hơn, an toàn hơn. Các hộ ra nơi ở mới được hỗ trợ tiền để làm nhà mới, không lâu sau đó, 100% hộ dân đã có chỗ ở ổn định. Cho đến nay, thôn đã có 33 hộ, bà con trong thôn thực sự đã vượt qua khó khăn, sống đoàn kết, cùng giúp đỡ nhau vươn lên trong cuộc sống...
Quả đúng như những gì Bí thư Cừ Mí Dương tâm sự. Trên con đường bê tông phẳng lì nối từ con đường liên xã Du Tiến - Du Già vào bản chạy men theo một bên dòng suối Lý lờ lững trôi, ánh mắt tôi như bị hút vào những ngọn núi cao vời vợi, một bên là bản làng mới yên bình, những ngôi nhà núp dưới tán xanh của cây cối. Đúng là cuộc sống của bà con bản Lý dù vẫn chưa hẳn là giàu nhưng đã không khó khăn như trước nữa.
Theo Bí thư Dương, nhờ khai khẩn ruộng, nương, khắc phục diện tích thiệt hại do thiên tai nên bây giờ, thôn đã có 12ha diện tích đất trồng lúa một vụ, 13ha đất trồng ngô. Do được các chương trình, dự án đầu tư nhiều mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nên bà con biết trồng giống lúa, ngô mới, biết thâm canh tăng vụ. Nhờ đó, mấy năm gần đây, năng suất lúa, ngô năm nào cũng đạt rất cao, các hộ dân đều có đủ lương thực ăn trong năm.
Rời bản Lý, chia tay một góc trời cao nguyên đá, tôi mang trong mình niềm vui, niềm tin vào một vùng đất nơi cực Bắc Tổ quốc từng gánh chịu nhiều mất mát, đau thương. Cứ nghĩ đến một ngày, bản Lý sẽ bừng sáng như ánh nắng cao nguyên một khi sự nghiệp xây dựng nông thôn mới hoàn thành, "con đường gian khổ" trở về xuôi của tôi dường như ngắn lại.
Và tôi tin, mình sẽ lại về với bản Lý vào một ngày không xa...









