Biên phòng - Ngày 2-5-2014, Trung Quốc hạ đặt giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 trong khu vực đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam. Để làm rõ thêm vấn đề này, phóng viên (PV) báo Biên phòng đã có cuộc phỏng vấn PGS-TS, Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Bộ Công an.
![]() |
| PGS.TS, Thiếu tướng Lê Văn Cương. |
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thứ nhất, có thể khẳng định, việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam không phải là hành động bột phát, mà đã được chuẩn bị từ trước, ít nhất khoảng 2-3 năm trước đây. Từ năm 2012, giàn khoan này đã tác nghiệp ở phía Nam đảo Hải Nam, chuẩn bị đi vào Biển Đông. Thứ hai, đây là một trong nhiều việc làm để Trung Quốc hiện thực hóa đòi hỏi chủ quyền phi lý của họ trong vùng nước bao chiếm bằng "đường lưỡi bò". Hơn 60 năm qua, cả thế giới hỏi Trung Quốc, căn cứ vào đâu mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia tại vùng biển này, thì không một học giả nào, một quan chức Trung Quốc nào trả lời được. Thỉnh thoảng họ cho rằng "đường lưỡi bò" là vùng nước lịch sử của Trung Quốc. Đây là yêu sách phi lý nhất, bất chấp luật pháp nhất của Trung Quốc.
Theo thông lệ quốc tế hiện nay, một vùng biển được coi là vùng nước lịch sử phải thỏa mãn 4 tiêu chí: Thứ nhất, cấu tạo địa chất, địa tầng, thủy văn ở đấy phải gắn với vùng đất liền của nước sở tại (tức là của nước ven biển đó). Thứ hai, quan trọng hơn, vùng nước lịch sử phải là vùng cách xa đường hàng hải quốc tế. Thứ ba, đây là vùng nước có vai trò quan trọng về kinh tế, an ninh đối với quốc gia sở tại. Thứ tư, bản thân nước ven biển này có quá trình quản lý và thực thi chủ quyền ở vùng nước này. Theo 4 tiêu chí này, Trung Quốc không có quyền tuyên bố chủ quyền ở khu vực này. Khu vực "đường lưỡi bò" với 2,8 triệu km2, chiếm 80% Biển Đông không liên quan đến lục địa Trung Quốc. Thêm vào đó, vùng nước này là một trong những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới. 33% hàng hóa thương mại của Trung Quốc, 42% dầu mỏ thương mại thế giới đi qua khu vực Biển Đông. Trung Quốc chưa bao giờ quản lý và làm chủ khu vực này. Việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam nằm trong chuỗi hoạt động để hiện thực hóa chủ quyền phi lý của họ trong vùng biển này.
PV: Các chuyên gia cho rằng, mặc dù Bắc Kinh nói việc triển khai giàn khoan 981 trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là một phần của chương trình thăm dò dầu khí dài hạn, nhưng các nguồn năng lượng chỉ là sự quan tâm thứ yếu. Thực chất của hành động này là nỗ lực mới của Trung Quốc nhằm biến vùng biển thuộc chủ quyền của nước khác thành "vùng tranh chấp" - một phần trong chiến lược độc chiếm Biển Đông của họ. Ông có thể nói rõ hơn về vấn đề này?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Tôi đồng ý với ý kiến này. Các học giả Mỹ và phương Tây cho rằng, Trung Quốc gây hấn và muốn độc chiếm Biển Đông là vì một nền kinh tế khổng lồ đang "đói" năng lượng. Điều này mới đúng một phần. Dầu khí là một nguyên nhân thúc đẩy Trung Quốc gây hấn trong khu vực nhưng không phải là nguyên nhân chủ yếu. Nguyên nhân chủ yếu là chính trị và an ninh. Trung Quốc độc chiếm vùng biển theo chiến lược của họ là biến vùng biển của nước khác thành "vùng tranh chấp". Đây là trò chơi chữ và là sự ngụy biện của Trung Quốc. Rồi từ "vùng tranh chấp" này, Trung Quốc dùng lực lượng áp đảo quân sự và dân sự, chiếm cứ để biến thành của mình, phục vụ cho mục đích lâu dài của họ. Khi độc chiếm được Biển Đông, Trung Quốc tính đến tranh chấp với Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương, tiến tới chia đôi Thái Bình Dương, phía Đông đảo Gu-am là Mỹ, Tây Gu-am là Trung Quốc, sau đó nhắm đến Nhật Bản.
Thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc xuất phát từ việc năm 2010, GDP của Trung Quốc đã vượt Nhật Bản, Trung Quốc cho rằng, về tiềm lực kinh tế nước này đứng thứ hai thế giới.
PV: Theo nhận định của ông Crit-xti-an Lơ Mi-e, chuyên gia về An ninh hàng hải và hải quân thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) có trụ sở tại Luân Đôn (Anh), với việc triển khai giàn khoan nước sâu 981, Trung Quốc dường như đã thể hiện rõ ý đồ không muốn đối thoại để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo với các nước có liên quan. Việc này có khả năng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang để chống lại mối đe dọa từ Trung Quốc. Ông có đồng ý với ý kiến này không?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Từ vụ việc này mà kết luận Trung Quốc từ chối đối thoại thì không phải. Trung Quốc sẵn sàng đối thoại nhưng trong cuộc đối thoại bao giờ Trung Quốc cũng đưa ra những yêu cầu không ai có thể chấp nhận. Đó là thủ đoạn của Trung Quốc từ xưa đến nay. Ở Biển Đông cũng vậy, đã có nhiều cuộc đàm phán song phương và đa phương diễn ra, nhưng không giải quyết được vấn đề vì phía Trung Quốc thường đưa ra những yêu sách phi lý.
Hành động hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực phải tính toán đến việc mua sắm phương tiện chiến tranh, tổ chức lại quân đội, lực lượng vũ trang tùy theo điều kiện kinh tế và chính sách quốc phòng - an ninh của mỗi nước. Tuy nhiên, sẽ không có cuộc chạy đua vũ trang tầm chiến lược toàn cầu.
PV: Hiện nay, Việt Nam và Phi-líp-pin... đang phải đấu tranh chống lại các hành động hung hăng, gây hấn của Trung Quốc tại Biển Đông. Ông có thể cho biết, vai trò của ASEAN trong giải quyết vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam - Trung Quốc nói riêng và khu vực Biển Đông nói chung cần thể hiện như thế nào?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Kể từ năm 2005, nhất là từ năm 2010 đến nay, năm nào Trung Quốc cũng gây hấn với Việt Nam và mức độ ngày càng nghiêm trọng.
Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam xảy ra trước thềm Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 24 là việc làm đầy toan tính của họ. Tại hội nghị lần này, ASEAN đã thể hiện lời nói thống nhất, có phản ứng kịp thời và so với những lần trước là mạnh mẽ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, ASEAN có một tuyên bố, mặc dầu không phê phán đích danh Trung Quốc, nhưng ai cũng hiểu tuyên bố ấy là phê phán Trung Quốc. Tại diễn đàn này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã đề nghị ASEAN tăng cường đoàn kết, thống nhất và khẳng định lại mạnh mẽ các nguyên tắc đã được nêu tại Tuyên bố 6 điểm về Biển Đông, đồng thời yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982... Đề nghị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được ASEAN đồng thuận và hoan nghênh nhiệt liệt. Có thể khẳng định, vai trò của ASEAN trong sự kiện này là tích cực, kịp thời và đúng mức.
PV: Giáo sư Các-lơ Thay-ơ, chuyên gia về Việt Nam và là Giáo sư danh dự tại Học viện Quốc phòng Ô-xtrây-li-a cho rằng, việc Trung Quốc chọn thời điểm này để hành động làm dấy lên những đồn đoán rằng, đây là "động thái trả đũa" chuyến thăm của Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma tới các nước nước châu Á của Mỹ là Nhật Bản, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin vào cuối tháng 4 vừa qua, vì các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc là chủ đề được bàn luận liên tục trong chuyến thăm này. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ. Các học giả cần nghiên cứu thêm. Tôi không quan niệm đây là hành động trả đũa. Tại sao Trung Quốc gây hấn vào lúc này? Thứ nhất, đây là một việc đã được chuẩn bị từ trước, nằm trong chiến lược của họ. Thứ hai, cuộc khủng hoảng tại U-crai-na kéo dài 5-6 tháng nay đã chi phối Mỹ, Nga, Liên minh châu Âu (EU)... Đây là thời gian thuận lợi nhất để Trung Quốc thực hiện mưu đồ. Nguyên nhân trực tiếp có thể coi xuất phát từ chuyến đi của ông Ô-ba-ma, nhưng không phải là "hành động trả đũa".
Mấy năm gần đây, Mỹ vẫn luôn nói Mỹ "quay trở lại châu Á", "xoay trục sang châu Á", "bảo vệ đồng minh". Tuy nhiên, trong chuyến thăm Nhật Bản, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma lần đầu tiên tuyên bố công khai rằng, theo Điều 51 Hiệp định An ninh Mỹ - Nhật năm 1960, Mỹ sẽ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Nhật Bản, trong đó có cả quần đảo Xen-ca-cư là quần đảo tranh chấp với Trung Quốc (phía Trung Quốc gọi là Điếu Ngư). Khi ông Ô-ba-ma tuyên bố rõ ràng và nhất quán như vậy, Trung Quốc không dám "đụng đến" Xen-ca-cư vào lúc này và chuyển hướng sang Biển Đông.
PV: Cách giải quyết vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam - Trung Quốc hiện nay nên đi theo hướng nào? Việt Nam cần phải hành động ra sao?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Việt Nam đang theo đuổi biện pháp đàm phán hòa bình vì nó phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại; phù hợp với mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam; đồng thời phù hợp với bản chất nhân văn, hòa hiếu, bao dung của người Việt Nam, vốn đã tạo nên văn hóa Việt Nam, nền văn hiến Việt Nam. Đó là cách giải quyết phù hợp trên cơ sở pháp lý và đạo lý.
Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế lên án. Tôi mong rằng, người đứng đầu Nhà nước ta cần có một văn bản chính thức (công điện, công hàm) gửi cho người đứng đầu Nhà nước Trung Quốc nói rõ, phản đối hành động này, đồng thời khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam không bao giờ kích động chủ nghĩa dân tộc chống Trung Quốc và cũng không liên kết với ai để chống Trung Quốc. Tôi nghĩ, trong giải quyết vấn đề Biển Đông với Trung Quốc cần có một chiến lược lâu dài.
Với tư cách là một nhà nghiên cứu, một công dân, tôi hết sức khâm phục và kính nể các chiến sỹ của Lực lượng Cảnh sát Biển và Kiểm ngư Việt Nam - lực lượng trực tiếp đương đầu với Trung Quốc trên biển, đã rất can trường và dũng cảm, nhưng đồng thời cũng hết sức kiềm chế, tránh gây đổ máu. Theo tôi, đất liền cần phát động thêm nhiều phong trào hơn nữa hướng về biển đảo của Tổ quốc.
PV: Xin cám ơn ông!







