Biên phòng - Triển khai thực hiện Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10-1-2007 của Thủ tướng Chính phủ về đề án "Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý Nhà nước giai đoạn 2007 - 2010", nhiều năm qua, Bộ Tư lệnh BĐBP xác định cải cách thủ tục hành chính (CCTTHC) tại các cửa khẩu biên giới là yếu tố quan trọng, tạo sự thông thoáng cho công tác quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh (XNC), đồng thời góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước và hội nhập quốc tế.
| |
| Thiếu tướng Lê Thanh Tùng. |
Triển khai thực hiện Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10-1-2007 của Thủ tướng Chính phủ, trong những năm qua, Cục Cửa khẩu BĐBP đã phối hợp với Tổ công tác thực hiện Đề án 30 của Bộ Quốc phòng (BQP) nghiên cứu, rà soát, tham mưu đề xuất với BQP công bố, bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà trong lĩnh vực quản lý biên giới, XNC, xuất nhập khẩu; tổ chức tuyên truyền, triển khai đến các cửa khẩu để các tổ chức, cá nhân liên quan nắm rõ trình tự thực hiện, hồ sơ, điều kiện, yêu cầu của thủ tục hành chính về XNC, cấp các loại giấy tờ tại cửa khẩu cảng biển, đường bộ, đường sắt phù hợp với xu thế chung của các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời thực hiện tốt chủ trương CCTTHC của Đảng, Nhà nước. Đáng chú ý là đã tham mưu cho Chính phủ bãi bỏ tờ khai XNC tại 24 cửa khẩu, xây dựng quy trình XNC đường bộ, đường sắt, cảng biển thống nhất trong toàn quốc; hoàn chỉnh hệ thống bảng biển, chỉ dẫn tại các cửa khẩu; tự động hóa công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý hành khách, phương tiện XNC... tạo điều kiện thuận lợi cho người, phương tiện và hàng hóa khi XNC, xuất nhập khẩu. Để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính, song song với việc cải tiến quy trình, áp dụng đồng bộ các mặt công tác biên phòng, BĐBP đặc biệt chú trọng đến việc đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kiểm soát XNC tại cửa khẩu nói chung, cửa khẩu cảng biển nói riêng như: Triển khai trung tâm xử lý dữ liệu tại 21 cửa khẩu quốc tế; 29 đường truyền dữ liệu tốc độ cao; 130 hộp thư điện tử; trang bị hơn 3.000 loại thiết bị gồm hệ thống đầu đọc và kiểm tra hộ chiếu; đầu đọc hộ chiếu; đầu đọc thẻ từ, công nghệ mã vạch; cổng từ; máy in thẻ từ; bộ phương tiện kiểm soát phát hiện chất ma túy, phóng xạ; phương tiện tuần tra, kiểm soát, thông tin liên lạc… cho các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và cảng biển trọng điểm; triển khai khép kín hệ thống máy tính cài đặt chương trình nghiệp vụ cho các cửa khẩu phụ.
Thực hiện Quyết định số 22/2011/QĐ-TTg ngày 15-4-2011 của Thủ tướng Chính phủ, lực lượng BĐBP đã triển khai thực hiện khai báo thủ tục biên phòng qua thư điện tử tại 7 đơn vị BĐBP cửa khẩu cảng biển, gồm: Hòn Gai, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, Sài Gòn, Vũng Tàu. Đây là 7 cửa khẩu cảng biển quốc tế của Việt Nam có lưu lượng hàng hóa lớn nhất trong số 32 khu vực cảng biển mà lực lượng BĐBP quản lý để tiếp nhận thông tin về tàu thuyền, thuyền viên, hành khách, hàng hóa trước khi tàu đến cảng, phục vụ cho việc làm nhanh thủ tục, giảm thời gian đi lại cho hành khách và doanh nghiệp; cho phép tàu thuyền xếp dỡ hàng hóa, thuyền viên, hành khách có nhu cầu đi bờ được thực hiện ngay sau khi tàu đến cảng. Đặc biệt, năm 2006, khi Việt Nam tham gia Công ước FAL 65 về tạo thuận lợi trong giao lưu hàng hải quốc tế, nhằm đơn giản hóa, giảm thiểu các thủ tục, quy trình, giấy tờ liên quan tới việc đến, lưu lại và rời cảng của tàu thuyền thì công tác CCTTHC tại các cửa khẩu cảng lại càng được chú trọng. Các loại giấy tờ mà người làm thủ tục tại cửa khẩu cảng phải nộp cho BĐBP đã giảm từ 9 loại xuống chỉ còn 5 loại, những thủ tục rườm rà, chồng chéo trong lĩnh vực kiểm soát xuất nhập khẩu được loại bỏ, nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch của TTHC.
Với mục tiêu từng bước cải cách thủ tục biên phòng theo hướng văn minh, hiện đại, hiện nay, tại một số cửa khẩu, BĐBP đang hoàn thiện hệ thống xử lý dữ liệu, phần mềm để triển khai thực hiện chuyển đổi từ thủ tục biên phòng thủ công sang thủ tục biên phòng điện tử và tự động hóa các khâu làm thủ tục XNC, xuất nhập khẩu nhằm giảm thiểu thời gian chờ hoàn thành thủ tục của phương tiện; tiết kiệm chi phí đi lại, chờ kết quả của người làm thủ tục, chi phí neo đậu, bến bãi, hao mòn máy móc phương tiện… Về lâu dài, khi chữ ký điện tử được công nhận trong giao dịch điện tử, hồ sơ giấy tờ sẽ được thay thế bằng hồ sơ điện tử, việc khai báo, tiếp nhận thông tin, hoàn thành thủ tục XNC cho người, phương tiện sẽ được thực hiện qua mạng mà người làm thủ tục không phải nộp bất cứ một loại giấy tờ nào.
Để đẩy nhanh CCTTHC trong quản lý, kiểm soát XNC tại các cửa khẩu đường bộ và cảng biển, trong thời gian tới, các đơn vị BĐBP cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm như: Thứ nhất, quán triệt, tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, thường xuyên và hiệu quả những nội dung liên quan đến CCTTHC; làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ tăng cường huấn luyện chính trị, nghiệp vụ, pháp luật để mọi người trong đơn vị chuyển biến về nhận thức, ý thức trách nhiệm trong công tác quản lý, kiểm soát XNC, xác định được CCTTHC là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của đơn vị và cá nhân.
Thứ hai, tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra của các cấp trong việc triển khai thực hiện các nội dung CCTTHC, đặc biệt là tại các đơn vị cơ sở. Chỉ đạo các đơn vị BĐBP cửa khẩu căn cứ tình hình thực tế, yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị xây dựng nghị quyết lãnh đạo và kế hoạch chuyên đề về đẩy nhanh CCTTHC trong công tác thủ tục, kiểm tra, giám sát biên phòng, đảm bảo sát đúng với mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ CCTTHC và giữ vững an ninh trật tự tại các cửa khẩu đường bộ và cảng biển.
Thứ ba, tổ chức nghiên cứu, rà soát hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến công tác quản lý, kiểm soát cửa khẩu, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoặc hủy bỏ các qui định chưa phù hợp, ban hành các văn bản mới phù hợp với luật pháp Việt Nam, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia và yêu cầu CCTTHC.
Thứ tư, chỉ đạo các đơn vị BĐBP cửa khẩu chấp hành nghiêm các quy định, qui trình công tác thủ tục, kiểm tra, giám sát biên phòng; kết hợp các biện pháp nghiệp vụ trinh sát, công tác đối ngoại trong quản lý, đăng ký, kiểm soát người, phương tiện ra vào hoạt động tại khu vực cửa khẩu. Tăng cường công tác huấn luyện nghiệp vụ, pháp luật, công nghệ thông tin, khuyến khích cán bộ, chiến sĩ học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ, sử dụng tốt các loại trang thiết bị được trang cấp, chấp hành nghiêm kỷ luật, chú trọng đổi mới lề lối, tác phong làm việc, thái độ văn minh, lịch sự trong giao tiếp, làm việc.
Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý kiểm soát XNC, rút ngắn thời gian làm thủ tục cho người, phương tiện ra, vào hoạt động tại khu vực cửa khẩu. Chuẩn bị tốt điều kiện cơ sở vật chất, trang bị để triển khai thí điểm thủ tục biên phòng điện tử cảng biển trên phạm vi toàn quốc, từng bước chuyển đổi thủ tục biên phòng thủ công sang thủ tục biên phòng điện tử.
Thứ sáu, quán triệt, triển khai thực hiện tốt Quyết định số 2984/QĐ-BQP ngày 16/08/2010 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc công bố, bãi bỏ thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Quốc phòng. Niêm yết công khai các loại phí, lệ phí, mẫu biểu các loại giấy tờ mà người làm thủ tục phải nộp và xuất trình. Xây dựng qui định về kiểm tra cán bộ, chiến sĩ thực hiện tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách nhiệm; khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm cá nhân trong khi thực hiện nhiệm vụ. Việc xác định quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ trong khi thực hiện nhiệm vụ phải gắn liền với việc đánh giá, khen thưởng, kỷ luật. Tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời khen thưởng những cán bộ, chiến sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; chấn chỉnh, xử lý nghiêm khắc những cán bộ, chiến sĩ có hành vi sách nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp, nhân dân.
Cuối cùng là thường xuyên duy trì, giữ vững mối quan hệ phối hợp hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong và ngoài lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực hiện nhiệm vụ; tranh thủ sự hỗ trợ kinh phí của cơ quan, tổ chức và địa phương để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả công tác CCTTHC tại cửa khẩu.







