Biên phòng - Con đường đến với các buôn làng nơi vùng sâu, vùng xa Tây Nguyên vẫn còn đó những dốc núi cheo leo, những vùng đất khô cằn sỏi đá. Nhưng những khó khăn ấy không làm cằn cỗi mầm chữ vùng cao mà sự học vẫn đang nảy nở từng ngày mang lại ánh sáng niềm tin cho giáo dục nơi đây. Với trái tim yêu nghề, mến trẻ và tình yêu mãnh liệt với vùng đất cao nguyên, không ít cô giáo sẵn sàng ở lại nơi sơn cùng thủy tận, cần mẫn bám buôn, bám trường "gieo" chữ cho học sinh.
![]() |
| Nhờ sự quan tâm của các cấp, các ngành và lãnh đạo địa phương, đặc biệt là các thầy cô giáo, sự học ở Cư Pui đang nảy nở từng ngày. |
Tại phân trường Cư Pui 2, thôn Ea Rớt (xã Cư Pui, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk), trong sương mù bao phủ vẫn vang lên tiếng trẻ đọc sách, tiếng cô giáo giảng bài. 100% trong tổng số gần 250 học sinh ở phân trường này là con em đồng bào Mông, Mường, Dao từ các tỉnh miền núi phía Bắc đi xây dựng vùng kinh tế mới vào đây từ những năm 90 của thế kỷ trước. Nhiều em hằng ngày phải vượt 5-7km đường rừng để đến lớp.
Với giáo viên, đặc biệt là các cô giáo ở phân trường Cư Pui 2, từ sáng tinh mơ, khi trời còn chưa sáng, đến chiều buông, họ phải xử lý một đống công việc, cả "tư" lẫn "công". Tuy nhiên, dù khó khăn, vất vả đến mấy, các cô giáo đều tâm huyết và gắn bó với sự nghiệp trồng người nơi đây. "Mùa đông ở đây lạnh lắm, nhưng nhiều học sinh vẫn phong phanh, đầu trần, chân đất. Thương các em, các thầy, cô giáo thường xuyên vận động quyên góp quần áo ấm, sách vở để các em vơi bớt khó khăn đến trường học chữ…" - Cô Đoàn Thị Phước tâm sự.
Theo cô Phước, dạy học cho học sinh "đa dân tộc" như ở phân trường Cư Pui 2 rất khó vì bất đồng ngôn ngữ. Nhiều khi cả cô và trò đều cùng học, cô học trò, trò học cô những từ mới. Đặc biệt, trong luyện âm cho học sinh rất khó khăn, các giáo viên có khi phải kiên trì hàng tháng hướng dẫn tỉ mỉ học sinh cách phát âm, vì rất nhiều em khi bắt đầu đến trường không biết tiếng phổ thông.
"Cư Pui 2 là phân trường còn nhiều khó khăn. Từ điểm trường chính nằm gần trung tâm xã Cư Pui, để đến được đây phải vượt hơn 20km đường rừng. Đưa ra con số này là muốn nói rằng, việc học ở đây không đơn giản chỉ là chuyện dạy và học mà bên cạnh đó là một cuộc chiến "giữ trò" bám lớp của các thầy, cô giáo trên hành trình vận động con em đồng bào đến trường…" - Thầy giáo Đỗ Văn Trung chia sẻ.
Cũng theo thầy Trung, những năm gần đây, với sự quan tâm của địa phương, phân trường Cư Pui 2 đã được đầu tư xây dựng 4 phòng học, nên các em học sinh đã tránh được cái nắng gay gắt của mùa hè và cái lạnh buốt giá của mùa đông, theo đó, chất lượng chăm sóc và giáo dục cũng dần được nâng lên. Những kết quả có thể chưa được mỹ mãn, nhưng đây là một sự nỗ lực, quyết tâm cao của các giáo viên, đặc biệt là những cô giáo nơi phân trường này.
"Các cô giáo, với mẫn cảm của người phụ nữ đã có những đóng góp rất lớn trong việc duy trì việc học của trẻ em trong độ tuổi đến trường trên địa bàn. Với các cô, học trò như những đứa con, việc chăm chút, truyền dạy không chỉ bằng trách nhiệm của một người thầy mà bằng cả tấm lòng của người mẹ.
Có lẽ vì thế mà dù một bộ phận đồng bào trên địa bàn vẫn chưa thoát được cảnh đói nghèo, việc học chữ của con em họ cũng bấp bênh nhưng nhờ các cô mà sĩ số học sinh của phân trường luôn ổn định. Tôi cho rằng, không kể nam giáo viên, với các cô giáo, nếu không có lòng yêu thương học trò, sự tận tâm với nghề, thì có lẽ không ai đủ nhiệt thành để vượt khó, bám trường ở nơi khó khăn, vất vả này…" - Thầy Trung thổ lộ.
![]() |
| Vui bước đến trường. |
"Gieo" những ước mơ
Những tán lá rừng còn vương những giọt sương sớm, nhưng tại lớp 3B - trường Tiểu học Ea Sol, xã Ea Sol, huyện Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk, đã rộn vang tiếng trẻ luyện âm, cặm cụi, nắn nót từng con chữ. Ngay từ sáng sớm, cô giáo Nguyễn Thị Xuân cùng các giáo viên khác đã leo dốc, vượt đèo, đến với học sinh. Cô Xuân đã có 7 năm gắn bó với học sinh ở Ea Sol, cũng có chừng ấy thời gian "ba cùng" với người dân vùng gian khó này nên đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý về phương pháp truyền đạt kiến thức cho học sinh.
Cô cho biết, trường Tiểu học Ea Sol có 2 cơ sở và nơi cô dạy nằm trong buôn mới với 3 phòng học. Lớp cô phụ trách có 21 học sinh, trong đó có 20 em người dân tộc Ê Đê và 1 em dân tộc Gia Rai. Những năm trước đây, muốn đến được lớp học, cô và trò chủ yếu phải đi bộ, mặc dù bây giờ đường đi đã khá hơn nhưng vẫn phải vượt qua những con dốc trơn, chật hẹp, lởm chởm đá mới đến được với điểm trường.
Vậy mà hằng ngày, từ sáng sớm, các em học sinh vẫn cần mẫn đến trường để học từng con chữ, phép tính và mơ về một cuộc sống tốt đẹp ngày mai. Để tạo ra được đức tính hiếu học cho học trò vùng gian khó này, là câu chuyện không hề đơn giản. Cô Xuân phải dành nhiều thời gian, tâm huyết và kinh nghiệm đứng lớp bao năm đưa ra phương pháp dạy học và cả… vận động phụ huynh phù hợp nhất.
Sở dĩ phải "vận động phụ huynh" là vì ở Ea Sol, nhiều gia đình chưa chú trọng đến việc học hành của con em mình với "cái lý": "Mỳ, bắp ăn được, chứ con chữ thì không". Nhằm thay đổi thói quen lạc hậu này, cô Xuân phải thường xuyên trèo đèo, lội suối đến khuyên nhủ từng em, từng gia đình. Cô đã từng ở lại cùng ăn, cùng ở nhà của bà con buôn làng, trưởng buôn, phụ huynh học sinh, cùng với học trò lên rừng hái măng, xuống suối bắt cá.
Cô Xuân kể, khi đến nhà vận động học sinh ra lớp thì có gia đình bố mẹ đồng ý, nhưng trò nhìn thấy cô đến là chạy trốn. Nhiều gia đình thuyết phục mãi cũng không cho con đến trường vì họ quan niệm rằng, có học nhiều cũng chẳng để làm gì. Con gái thì đi lấy chồng cũng phải làm kinh tế...
Tuy nhiên, bằng tấm chân tình, bằng trách nhiệm của mình, cô giáo Nguyễn Thị Xuân và các giáo viên ở đây đã gieo vào nhiều thế hệ học trò tình yêu thương và những ước mơ tốt đẹp trong tương lai. Động lực giúp các thầy, cô giáo, trong đó có cô Xuân vượt qua mọi khó khăn chính là niềm hy vọng "con chữ" sẽ làm thay đổi được cuộc đời và những vùng đất còn nhiều gian khó này và cánh cửa tri thức sẽ mang đến cho nơi đây một tương lai tốt đẹp hơn.









