Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 08:33 GMT+7

"Kỳ Cùng" - một dòng sông

Biên phòng - Kỳ Cùng... Tên của một dòng sông thật ấn tượng. Ấn tượng ấy làm cho người ta không thể quên một dòng sông mà ngay lần đầu tiên được đằm mình vào trong vòng tay của nước, của phù sa để rồi gần hết đời người vẫn trằn trọc, muốn một lần tìm về nơi ấy.

Cái ngày vào cuối năm 1972, khi không lực Hoa Kỳ tuyên bố: "Không cho Bắc Việt còn một nửa viên gạch lành...", tôi đã bơi qua sông, qua khúc cua bên này là Đình Bảng, bên kia là bản Bảm, một bản người Tày nằm ép mình vào bờ sông thơ mộng để vượt ra Bãi Đá mà qua cầu Kỳ Lừa vào thị xã Lạng Sơn ngày ấy và là thành phố Lạng Sơn hôm nay.

9qzm_21a-1.jpg

Dòng sông Kỳ Cùng với những khúc cua, ẩn mình vào đá, vào núi, nhô ra giữa phố phường, nhào vào lòng thôn xóm, nhả ăm ắp phù sa cho những nương mía, bãi dâu, đồng ngô vàng óng ánh mỗi mùa nơi cuối hạ nguồn. Để rồi có hai mùa mưa nắng, cho hai con nước khác nhau. Một mùa thì nước lững lờ, xanh thăm thẳm, cho ta nhìn rõ cả những sợi râu tôm, cách mặt nước vài mét, bám vào rìa đá mà tâm tình, trao gửi. Một mùa thì dòng nước hung dữ tới tận "kỳ cùng" của "nhất thủy, nhì hỏa" lồng lên, vật vã, kéo băng băng cuốn đi những gì còn sót lại của đêm mưa, muốn "gạn đục, khơi trong", trả lại cho đá, cho đất, cho đời một đầu nguồn luôn e ấp tràn nước đôi bờ.

Tôi trở lại xứ Lạng để được đi trong cái say túy lúy của "bầu rượu - nắm nem" ngày xưa và cái hương vị cuộc sống bây giờ. Điểm đầu tiên tôi dừng chân, chiêm nghiệm - đó là tượng đài ải Chi Lăng. Công trình tưởng niệm này được xây dựng cách đây hơn 30 năm nhân kỷ niệm lần thứ 555 năm trận chiến Chi Lăng đi vào lịch sử, tháng 11-1427. Một cửa ải mà tôi đã nghe, đã đọc, đã đi qua nhiều lần nhưng rồi mãi đến hôm nay, bàn chân tôi mới được đặt chính thức lên đất "ải".

Hai dãy núi đất Bảo Đài, Thái Hòa ở phía Đông và dãy núi Kai Kinh, ở phía Tây như được ai ép lại làm nên một thung lũng có chiều dài hơn 5 cây số và chiều rộng gần 3 cây số, một cửa ải đầy tiếng gươm đao, trận mạc. Mắt tôi như hoa lên trong trận chiến chống quân Minh, như nhìn thấy vị tướng lẫy lừng cõi Đại Việt Lê Sát chém cụt đầu tướng giặc Liễu Thăng một thời nay hóa đá và 10 vạn tinh binh ngoại xâm đã quỳ gối xin hàng tại Xương Giang. Lời "Đại cáo bình Ngô" của Nguyễn Trãi lại âm vang đâu đó...

"... Ngày mười tám trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm lăm Bá tước Lương Minh đại bại tử vong

Ngày hăm tám Thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn...".


Đâu là núi Hàm Quỷ, đâu là núi Kỳ Lân, núi Phượng Hoàng, núi Mã Yên... chỗ nào là những hố đào "bẫy ngựa" để Trần Quốc Tuấn thể hiện tài thao lược, bài binh bố trận và cũng để Nghê Nhuận - một tướng tài nhà Nguyên phải nhận một đại đao chết không kịp ngáp làm cho tàn quân bạt vía kinh hồn. Trong thung lũng Chi Lăng này có còn không một thanh đao của nhà Trần, một phục binh dưới hố, chém đứt chân ngựa, tách "ngựa - người" mà tiêu diệt. Núi Mã Yên còn đó, cửa Xương Giang còn đây...

Thật khó tin, khó hiểu một thời ông cha ta đánh giặc để phía Nam thung lũng là núi Ngõ Thề, một tên núi như được hình thành từ lời thề non nước. Còn phía Bắc là núi Ải Quỷ như báo hiệu nơi bất khả xâm phạm, nơi "chúng bay vào sẽ không có đường ra".

Mải suy nghĩ, liên tưởng, một bàn tay đặt vào vai tôi, làm tôi giật mình quay lại, giọng miền Nam ấm mà vọng: "Anh nghĩ gì mà lung thế? Cho tui xin tí lửa...". Thò tay vào túi quần, đưa cho anh cái bật lửa ga, tôi cũng hóp má, bạnh cằm ra hít một hơi thuốc thật dài mà cảm nhận, mà thu nạp một vùng khí thiêng, đất thiêng trong dòng thiêng dân tộc. Rồi tôi quay lại bảo anh: "Không tưởng tượng sao được? Không suy nghĩ sao được? Đây là ải Chi Lăng mà".

Anh bạn đánh rơi cả điếu thuốc, cả chiếc bật lửa ga xuống đất: "Ải Chi Lăng hả? Trời ơi, thế là tui đã đến ải Chi Lăng. Ải Chi Lăng thật hả anh?". Tôi nhìn anh ta suýt bật cười: "Không thật thì ải Chi Lăng giả à, thật một trăm phần trăm chứ có đùa anh đâu? Anh không nhìn đài kỷ niệm à? Anh từ đâu đến?". "Dạ, tui từ trong Bình Phước ra, tui là Quang Thoại, tui đi bằng xe máy".

Có bạn rong xe, câu chuyện của hai chúng tôi chẳng quen mà cũng chẳng lạ cứ thế bung ra rồi nhân lên với những người cùng ưa "phượt" giữa non xanh, nước biếc, giữa núi rừng trùng điệp và bao địa danh thi sử quê mình. Bởi Quang Thoại thích chụp ảnh, cũng thích viết một cái gì đó về vùng đất và con người huyền thoại, giai thoại trong mỗi bước đường anh đi qua, anh cảm nhận. Chỗ nào là "đỉnh gió ghì cương ngựa", chỗ nào Phạm Sư Mạnh, một tể tướng đời nhà Trần "ngoảnh đầu nhìn" đất nước yêng hùng.

Chỉ một câu thơ thôi đã để lại cho ải Chi Lăng hay Quỷ Môn Quan một địa hình hiểm trở, hùng vĩ đến không cùng trong danh Nam, đất Việt. Và cũng thật tài tình, khi thực dân Pháp xây dựng đường tàu hỏa lên cửa Hữu Nghị Quan đã đặt cái tên ga "Trăm Năm" đúng vào vùng đất "ải", một cái tên mang ấn tượng đến nghìn đời khi nền văn minh, công nghệ "hơi nước" đi qua. Đây mới là cây số 105 cách Thủ đô Hà Nội, còn cách nơi "nàng Tô Thị" 49 cây số nữa...

Sáng nay tôi và Quang Thoại vượt qua TP Lạng Sơn 28 cây số nữa để có mặt ở phiên chợ "Đêm không ngủ" Tân Thanh. Một trong 4 cửa khẩu lớn nhất của Lạng Sơn là Hữu Nghị, Cốc Nam và Chi Ma. Chợ Tân Thanh được xây dựng bề thế, sầm uất đến khó tin. Bên kia là Pò Chài của Trung Quốc, bên này là Tân Thanh, thôi thì chẳng thiếu thứ gì ở cái chợ đường biên này. Nó cũng là một chợ lớn nhất trong các chợ đường biên trên xứ Lạng. Rồi tôi với Quang Thoại quay lại chùa Tam Thanh, một ngôi chùa nép mình vào cửa động Tam Thanh dưới chân núi đá để được thanh thản nghe tiếng mõ cầu, nghe tiếng chuông ngân. Ngắm mặt nước hồ thủy mạc trong hang mà nhớ thơ bia của Ngô Thì Sĩ tạc năm 1777:

"Thong thả cưỡi lừa chơi động xưa

Dùng dằng bên động cảnh càng ưa

Suối trong cuội đá đường reo gọi

Núi trước nàng Tô dõi nắng mưa...".


Đứng trước cung Tam Bảo, dưới chân tượng đá A-di-đà cao 2,2m, được tạc trong hang mà suy ngẫm một xứ Lạng xưa, một xứ Lạng hôm nay.

Cuối cùng thì tôi với Quang Thoại cũng tạt vào quán bên đường để được thưởng thức cách ẩm thực bên bờ Kỳ Cùng trong bữa cơm xóm chợ thường ngày. Vẫn là con sông, con sông Kỳ Cùng mà không kỳ cùng đã đưa tôi và Quang Thoại lên tận đỉnh núi Vọng Phu, đứng dưới chân nàng Tô Thị để được ngắm dòng sông cho rõ ràng hơn. Chỗ nào ngày chống Mỹ là kho ngô, kho gạo, chỗ nào là bãi đỗ xe ban ngày khi chưa có lệnh xuôi về phương Nam.

Rồi tạt sang bên, tôi như chạm được tay vào bảo vật của thế kỷ 16, tựa lưng vào thành đá rêu phong hoài cổ nhà Mạc mà nhớ về ngày Mạc Kính Cung xây thành chống lại nhà Lê, nhà Trịnh. Đâu là Nhị Thanh, Tam Thanh, đâu là Quán Hồ, Đồng Đăng, cầu Đồng Mỏ... Hướng nào là núi Mẫu Sơn, huyện Cao Lộc và huyện Lộc Bình, một quần thể "núi mẹ, núi con" thuộc 3 xã của hai huyện, có hai xã đều tên là Mẫu Sơn và một xã Cao Sơn bốn mùa mây phủ. Với 80 đỉnh núi quần tụ để đỉnh Phia Po, cao 1.541m, được gọi là Công Sơn hay Pia Mê cao 1.520m trở thành mẹ, thành cha... Nơi kéo mây, giăng gió, nơi thả mê cung xuống trần thế để hút hồn đất, thu lượm hồn người...

Kỳ Cùng, kể đến bao giờ cho hết một dòng sông. Dòng sông ấy có lẽ chẳng bao giờ biết "kỳ cùng" trong cái tên Kỳ Cùng tưởng như là bến cuối. Ngồi trong công viên trung tâm thành phố Lạng Sơn, một công viên còn trẻ đến tinh khôi để được thả hồn vào dòng nước đang vượt lên biên thùy ra khỏi tầm kiểm soát, thả tầm mắt vào đại lộ Hùng Vương, tôi và Quang Thoại như nín thở. Tôi biết Quang Thoại cũng như tôi, đang lan man nghĩ về vùng đất, vùng người, về dòng sông có diện tích lưu vực trên 6.660 ki-lô-mét vuông và dài 243 cây số nơi đất Việt.
Nguyễn Quang

Bình luận

ZALO