Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 02:59 GMT+7

"Tâng tung da dá" - Vũ điệu đặc sắc của người Cơ Tu

Biên phòng - Ở khu vực biên giới các tỉnh, thành phố Quảng Nam, Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế, đồng bào dân tộc Cơ Tu sống hiền hòa cùng các dân tộc anh em khác. Văn hóa tộc người Cơ Tu không chỉ đa dạng và phong phú, mà còn tiềm ẩn trong đó biết bao triết lí nhân sinh của con người đã quen sống khoáng đạt giữa núi rừng. Vũ điệu "Tâng tung da dá", hay còn gọi "Vũ điệu dâng trời" là nghệ thuật diễn xướng nổi trội và được nhiều người yêu thích. Từ bao đời nay, người Cơ Tu múa "Tâng tung da dá" như một cách để kết nối giữa thế giới thực tại với vũ trụ, tổ tiên, ông bà và các vị thần...

q7lg_20c
"Vũ điệu dâng trời" trong Lễ hội đâm trâu của người Cơ Tu. Ảnh: Tuệ Lâm

Điệu múa của cộng đồng

Theo ước tính, trên dãy Trường Sơn hiện nay có khoảng trên 20 dân tộc sinh sống với nhiều hệ ngôn ngữ khác nhau, tạo nên những nếp sống và nền văn hóa hết sức đặc thù và đa dạng. Riêng người Jẻ-T'riêng và Cơ Tu lại có niềm tự hào với các lễ hội truyền thống như: Lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, mừng nhà mới hay cưới hỏi… Trong đó, độc đáo nhất phải kể đến lễ hội dân ca dân vũ "Tâng tung da dá", hay còn gọi là "Vũ điệu dâng trời". Đây là điệu múa đặc trưng của người Cơ Tu mang tính tập thể rất cao, là sự kết hợp giữa nam và nữ, giữa âm thanh cồng chiêng cùng với tiếng "hú" vang xa, cao vút như nốt nhấn làm mạnh mẽ thêm cho ngôn ngữ múa. Có thể nói "Tâng tung da dá" là một điệu múa đẹp, vui nhộn, thu hút nhiều người tham gia.

Người Cơ Tu thích nhất là "Tâng tung da dá", bởi đây là một trong số ít những làn điệu dân ca dân vũ hòa trộn cho thấy sự đoàn kết gắn bó một lòng của đàn ông, thanh niên với đàn bà và thiếu nữ Cơ Tu. Trong không gian bao la của núi rừng, vòng tròn nam nữ thanh niên di chuyển nhịp nhàng sinh động cùng với âm thanh cồng chiêng và các loại nhạc cụ truyền thống khác, luôn ngân dài tan vào vũ trụ như một lời cầu nguyện người Cơ Tu gửi tới đấng thần linh và tổ tiên. Họ tin rằng, thần đất, thần sông, thần suối cho họ cái ăn và Giàng (nghĩa là trời) cho họ cái nghĩ, niềm tin vào sức mạnh để vượt qua, sống mạnh mẽ cùng với nắng gió và núi rừng Trường Sơn hùng vĩ.

Già làng Bhling TrơNgâr (thôn Xà Ơi 3, xã A Vương, Tây Giang, Quảng Nam) cho biết, "Vũ điệu dâng trời" gắn bó mật thiết với cộng đồng, xuất hiện trong nhiều sinh hoạt cộng đồng và các lễ hội lớn của người Cơ Tu như lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, dựng làng, dựng nhà Gươl và nó được trao truyền từ đời này sang đời khác. Không một người Cơ Tu nào ở Quảng Nam, Đà Nẵng hay Thừa Thiên Huế xa lạ với điệu múa này. Họ trân trọng và ý thức việc gìn giữ và phát huy loại hình nghệ thuật đặc sắc của dân tộc mình.

ed9r_20a
Già làng Bhling TrơNgâr. Ảnh: Tuệ Lâm

Nhịp khát vọng Cơ Tu

Người Cơ Tu mặc định với nhau rằng, "tâng tung" là điệu múa của đàn ông, con trai, còn "da dá" là điệu múa của đàn bà, con gái. Trong những lần sinh hoạt dân ca dân vũ, tất cả cùng múa và nhịp bước trong cùng một vòng tròn, ngược theo kim đồng hồ, sôi động, rộn ràng trên nền tiếng trống, cồng chiêng vang vọng núi rừng bao la hùng vĩ. Bên cạnh đó, "tâng tung" còn được hiểu là vươn lên cao, sôi động hơn, mạnh mẽ hơn và vững chãi hơn. Nó thể hiện khát vọng chinh phục vũ trụ, muốn vươn lên tầm cao mới, mong cuộc sống tốt đẹp hơn của mỗi con người.

Còn "da dá", theo tiếng Cơ Tu có nghĩa là thẳng hàng, nhịp đều, mang khát vọng của ý nghĩa tâm linh là nhớ ơn đất trời, trung thành với người, kính trên nhường dưới. Trong điệu "da dá", động tác múa phải uyển chuyển, toát lên sự đằm thắm, chung thủy và không bị khuất phục. Vì thế, điệu múa này chỉ dành riêng cho "phái đẹp". Bởi người Cơ Tu quan niệm rằng phụ nữ vốn thùy mị, thương chồng, yêu con, biết hy sinh vì sự sinh tồn, phát triển của dòng tộc.

Khi trình diễn "Vũ điệu dâng trời", đàn ông Cơ Tu mặc khố, choàng một áo dệt bằng thổ cẩm, chân đi trần, tay nắm chắc cây khiên, cây giáo hoặc nắm chắc tay bạn bên cạnh, tung đôi tay lên vừa bước, vừa hú một cách tự tin và hùng dũng, thể hiện sức mạnh trai tráng của mình. Còn nữ giới thì mặc váy thổ cẩm nhiều màu sắc, hoa văn, vai trần, cổ đeo vòng cườm. Khi múa, đôi mắt của người phụ nữ nhìn thẳng, miệng luôn tủm tỉm cười, chân đi đất nhón gót xoay tròn ngược chiều kim đồng hồ, động tác múa uyển chuyển, nhẹ nhàng và quyến rũ.

Giờ đây "Tâng tung da dá" đang có dấu hiệu hồi sinh, đặc biệt mới đây, Hội đồng Di sản quốc gia đã công nhận "Tâng tung da dá" của người Cơ Tu tại Quảng Nam là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Điều đó không chỉ có ý nghĩa là niềm tự hào đối với tất cả người dân xứ trầm hương, mà nó còn tiếp thêm sức mạnh to lớn cho người Cơ Tu trong hành trình khôi phục và gìn giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mình từ thời thượng cổ.

Có một nguyên tắc khi trình diễn "Tâng tung da dá" là sau khi giàn trống chiêng vang lên "ting toàng… ting toàng… tư tư.. tư tư… từng… từng…", bao giờ người con gái cũng bước ra múa trước, hết lượt con gái mới đến lượt con trai nối tiếp. Nếu người đông một vòng chật thì tạo thành hai vòng tròn cùng nhảy múa một lúc. Điệu múa "tâng tung da dá" sắp xếp đi trước là nữ, đi sau là nam; vòng trong là nữ, vòng ngoài là nam. Phải chăng, chính điều này nói lên rằng, tộc người Cơ Tu dành cho đàn bà con gái sự "ưu tiên" hơn cả. Ngay trong gia đình, khi hai vợ chồng đi làm, trên đường ra nương rẫy, người vợ vẫn luôn là người đi trước.

Nhưng, cũng giống như hết thảy các loại hình dân ca, dân vũ khác, "Tâng tung da dá" cũng có thời điểm đứng trước nguy cơ bị mai một. Thực trạng đó đã buộc chính quyền, ngành Văn hóa các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế phải nỗ lực rất nhiều trong việc khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá truyền thống. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến việc phục dựng nhà Gươl và mời các nghệ nhân truyền dạy "Vũ điệu dâng trời".

Già làng Bhling TrơNgâr hồ hởi: "Đối với người Cơ Tu, "Tâng tung da dá" đã ngấm vào máu thịt. Trong bất cứ một lễ hội nào của chúng tôi, không thể thiếu được "Vũ điệu dâng trời". Tuy điệu múa này rất khó, nhưng từ người già và trẻ con ở đây đều biết, đó là nhờ người già biết dạy dỗ, trao truyền cho con cháu. Vì muốn gìn giữ nét văn hóa truyền thống để sau này không bị mai một, thất lạc, khó thế nào con cháu cũng phải học. Bởi, nếu sau này, thế hệ người già chết đi,  ít ra vẫn còn thế hệ trẻ kế thừa. Người Cơ Tu không thể không còn "Tâng tung da dá"...".

Tuệ Lâm

Bình luận

ZALO