Biên phòng - Giờ đây, người ta chỉ còn thấy voi trong vườn bách thú hay ở Tây Nguyên. Nhưng ít người biết rằng voi là một con vật gần gũi với người Việt Nam từ cách đây hơn 2.000 năm. Lại càng ít biết hơn về voi đã từng đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong suốt dặm dài lịch sử dân tộc.
![]() |
| Hình ảnh voi và hai người quản tượng tại một cổ vật văn hóa Đông Sơn, cách đây 2.000 năm. |
Trong thời đại công nghiệp, voi đã lui về làm... du lịch. Người ta đã không nhờ voi đánh trận nữa, vì đã có đàn "voi" thép hậu duệ - đại bác nhả đạn xuống cánh đồng Mường Thanh trong trận Điện Biên Phủ. Cũng không nhờ đến sức voi để chuyên chở gỗ, đá, vật liệu nữa, vì đã có ô tô, tàu hỏa. Thế nhưng, suốt mấy ngàn năm qua, voi đã là một trong những người bạn thân nhất của người Việt, chả thế mà từ thời Hùng Vương, người xưa đã đúc khá nhiều tượng voi trang trí cho cán dao găm, cán muôi, chân đèn…Voi quý đến nỗi mà tương truyền là đồ sính lễ hàng đầu để Vua Hùng kén rể: "Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao".
Trong bang giao thời cổ, trong sử sách nói nhiều đến voi ở khía cạnh là vật phẩm cao cấp các quốc gia cổ đại biếu tặng nhau để giữ hòa hiếu. Đôi khi thay cho voi là những cặp ngà voi quý giá. Sách Đại Việt sử ký toàn thư còn chép lại: Vào năm 975, vua Đinh Tiên Hoàng sai Trịnh Tú đem ngà voi sang cống nhà Tống. Đến thời Lý, vua Lý Thái Tông sai người sang biếu nhà Tống hai con voi thuần. Để đáp lễ, vua Tống đã biếu lại nhà Lý bộ kinh Đại Tạng.
Vào thời Lý, rừng rậm còn nhiều khắp lãnh thổ Đại Việt. Quanh hồ Tây cũng có nhiều đàn voi rừng. Vì thế mà sử sách còn chép lại: Vua Lý sai người đặt cũi lớn ở hồ Tây, lấy con voi đã thuần làm mồi nhử để bắt voi rừng vào cũi cho vua thân đến bắt. Đến thời Lý Thánh Tông, vua còn đặt niên hiệu Thiên Huống Bảo Tượng (Trời ban cho Voi quý) nhân dịp châu Chân Đăng dâng lên nhà vua hai con voi trắng.
Nhà Lý lại có công lớn khi dùng voi để đổi lấy… đất. Năm Mậu Ngọ (1078), vua Lý Nhân Tông sai Đào Tống Nguyên đem 5 con voi quý sang biếu nhà Tống để đề nghị trả lại các châu Quảng Nguyên, Tô Mậu và những người trong các châu này bị bắt đi trước đó. Nhà Tống đã trả lại cho Đại Việt 6 huyện và 3 động.
Nay, đất mà Tống thu hồi được vẫn còn và là một số huyện vùng biên giới của tỉnh Cao Bằng. Chính sách khôn khéo của Lý Nhân Tông đã làm cho về sau, người Tống vẫn còn tiếc chuyện đổi đất ở vùng biên này qua câu thơ "Nhân tham Giao Chỉ Tượng, khướt thất Quảng Nguyên kim" (vì người Tống tham voi của xứ Giao Chỉ mà đã để mất mỏ vàng của châu Quảng Nguyên). Thế mới biết giá trị của voi quý nhường nào trong bang giao với phương Bắc.
Bên cạnh "vũ khí" ngoại giao, voi còn là "vũ khí" quân sự cực kỳ lợi hại đối với người Việt. Từ thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa (năm 40-43), Trưng Trắc và Trưng Nhị đã cưỡi voi ra trận, 65 thành trì cùng nổi dậy làm cho quân xâm lược khiếp đảm. Đến thời Bà Triệu (năm 248), thư tịch còn ghi lại hình ảnh lẫm liệt của "Người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu Ẩu tập hợp dân chúng đánh chiếm các quận, huyện. Ẩu có vú dài 3 thước, vắt ra sau lưng, thường ngồi trên đầu voi đánh nhau với giặc".
Đến thời Trần, hình ảnh của voi được khắc họa trên một số thạp hoa nâu với hình chiến binh cầm giáo bên cạnh hình voi trận có cặp ngà dài. Vị tướng tài theo Trần Hưng Đạo đánh giặc cũng có tên là Dã Tượng (nghĩa là Voi rừng), lập công lớn, nay còn có phố ở Hà Nội được đặt tên ngài. Voi theo chiến binh ra trận.
Trong khoảnh khắc thời bình ngắn ngủi giữa ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, voi lại được tập luyện cùng quân đội. Nhà Trần còn tổ chức đấu voi cho Thượng hoàng (Vua cha) xem ở điện Thiên An trước sân Long Trì (nay là khu vực điện Kính Thiên trong thành cổ). Hình ảnh của voi còn gắn với vị tướng tài Trần Nhật Duật. Ngài thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già ven hồ Tây (nay vẫn còn địa danh chùa Bà Già), để nói chuyện với người Chiêm Thành định cư ở đây, vì ngài thông thạo nhiều ngoại ngữ, trong đó có tiếng Chăm.
![]() |
| Voi chín ngà và chiến binh. Tranh khắc ván thời Nguyễn. |
Nhưng có thể nói, voi còn gắn với anh hùng dân tộc Lê Lợi, vốn quần tụ được người Mường ở vùng miền núi Thanh Hóa đi theo chiến đấu. Nơi đây còn có chiếc trống đồng loại II, thường gọi là trống Mường, có đến 6 con voi khá đẹp, mỗi con một dáng trên mặt trống Ngọc Liên. Buổi đầu khởi nghĩa, Lê Lợi đã chỉ huy quân và voi đánh úp giặc ở đồn Đa Căng (huyện Thọ Xuân) thắng lợi.
Trận Chi Lăng nổi tiếng chém đầu Liễu Thăng, cũng có công của voi: Các tướng của Lê Lợi đem một vạn quân tinh nhuệ và 5 thớt voi bí mật mai phục ở ải Chi Lăng đợi giặc. Thời Lê, voi là một binh chủng mạnh, luôn luôn có cuộc diễn tập binh chủng này trước sân Giảng Võ, voi được ở trong chuồng voi lợp ngói. Có những cuộc đấu dành cho vua Lê xem voi đấu nhau với hổ.
Nhưng có thể nói, voi đã góp công lớn nhất trong trận mạc là vào thời vua Quang Trung. Trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, nhiều đoạn chép Vua cưỡi voi đi vào doanh trại để động viên quân sĩ. Cánh quân giải phóng thành Thăng Long đều có sự tham gia của voi: Đô đốc Long đốc xuất quân gồm voi và kỵ mã đi theo đường Chương Đức đến Nhân Mục phía Tây Thăng Long. Đại đô đốc Bảo thống đốc quân voi, ngựa qua đường Đại Áng đánh phía Nam Thăng Long.
Vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc đánh đồn Ngọc Hồi. Cái trận mà voi lập công lớn chính là trận Đầm Mực (làng Quỳnh Đô, Thanh Trì), Hoàng Lê nhất thống chí còn chép lại: Quân Tây Sơn lùa voi giày đạp, chết đến hàng vạn tên giặc. Nhờ những chiến thắng trận mạc và chính sách bang giao khôn khéo mà Đại Việt tránh được họa binh đao với phương Bắc trong một thời gian dài sau đó.









