Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 04:02 GMT+7

"Vua phá mìn"

"Vua phá mìn"

Biên phòng - "Trong chiến đấu, đơn vị chúng tôi có đồng chí rất mưu trí, sáng tạo phá hàng ngàn quả mìn an toàn để mở đường cho bộ đội đánh địch và bảo đảm an toàn tính mạng cho đồng đội. Được đồng đội kính trọng phong danh hiệu "Vua phá mìn". Đó là lời chia sẻ của cựu chiến binh (CCB) Chu Quang Tùy, nguyên Đại đội trưởng, Đại đội 70, Tiểu đoàn Đặc công 408 Anh hùng.

24f7_10-1.JPG
Ông Lê Hữu Đạt (bên phải) kể lại những lần đi phá mìn của mình. Ảnh: Xuân Hoàng

Chúng tôi đã được nghe khá nhiều câu chuyện về những tấm gương điển hình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Gia Lai như: Người chiến sĩ đặc công nhiều lần truy điệu sống trước khi cảm tử đột nhập vào trong lòng địch; người ôm mìn lao vào xích xe tăng để ngăn cản bước tiến của kẻ thù... cùng rất nhiều gương cá nhân điển hình khác. Họ đều là những chiến sỹ cách mạng kiên trung, mưu trí, không sợ hy sinh, quên mình chiến đấu để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Nhưng câu chuyện về "Vua phá mìn" thì lần đầu tiên chúng tôi được nghe, nên đã tìm đến Ban liên lạc Hội CCB Tiểu đoàn Đặc công 408 để tìm hiểu. Đó là ông Lê Hữu Đạt, sinh năm 1950, quê ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa, hiện cư trú tại hẻm 89, Nguyễn Đình Chiểu, phường Tây Sơn, TP Pleiku, Gia Lai.

Ở cái tuổi 65 nhưng trông ông vẫn còn khá trẻ trung, năng động. Biết chúng tôi đến tìm hiểu về nghệ thuật rà phá bom mìn của bộ đội ta trong chiến tranh, nên ông vào ngay câu chuyện: "Đồng đội thương thì gọi thế thôi, chứ tôi có phải là "Vua" gì đâu". Nhấp ngụm trà nóng, câu chuyện về ông bắt đầu được gợi mở.

Ông được sinh ra trên vùng quê bom cày đạn xới. Từ nhỏ, ông đã thấy được sự tàn khốc của chiến tranh. Năm 1970, ông tình nguyện lên đường tòng quân. Lê Hữu Đạt trở thành chiến sĩ của Tiểu đoàn 2 đặc công đóng ở Ba Vì, Hà Tây (cũ). Sau thời gian huấn luyện, đơn vị của ông được lệnh hành quân vào chiến trường Tây Nguyên phục vụ chiến đấu. Đoàn xe chở quân từ Hà Tây tới làng Ho (Quảng Bình) thì dừng lại để hành quân bộ.

Trong suốt cuộc hành quân băng rừng, lội suối đầy nguy hiểm và gian khổ ấy có không ít đồng đội, đồng chí của ông phải nằm lại hoặc quay trở ra Bắc vì cơn sốt rét ác tính hành hạ. Ngay bản thân ông là một thanh niên khỏe mạnh với cân nặng gần 60kg, chỉ sau một trận sốt rét đã sút giảm còn chưa đến 40kg.

Hơn nửa tháng trời hành quân ròng rã, đơn vị ông đã vào đến Gia Lai nơi tập kết. Ông được phân công về Tiểu đoàn đặc công 408 có nhiệm vụ chuyên đánh hậu cứ, căn cứ Mỹ-ngụy trên địa bàn thị xã Pleiku và vùng ven. Kỷ niệm sâu sắc nhất của ông đó là trận đầu ông được cùng đồng đội trực tiếp chiến đấu.

Năm 1971, đơn vị ông được trên chỉ đạo đánh chốt Lê Bông. Tổ trinh sát của ông gồm có 3 người, mỗi người một nhiệm vụ nhằm đánh sập hội trường và hầm ngầm của địch. "Nhận lệnh tham gia đánh trận đầu tiên tôi mừng quá, ôm túi bộc phá lao lên mục tiêu, sau khi đánh sập hội trường, mũi tấn công của bên tôi chuẩn bị rút quân, thì tôi nghe thấy phía hầm vẫn còn phát ra tiếng nói, tôi tiếp tục hỗ trợ đồng đội đánh sập bằng được hầm mới chịu rút quân" - ông kể.

Sau một năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ông được trên bổ nhiệm giữ chức Tiểu đội trưởng chuyên dò phá bom mìn, khắc phục vật cản mở đường cho bộ đội đánh địch. Trong suốt quá trình cùng đồng đội tham gia chiến đấu, ông nhận ra rằng: Đồng đội hy sinh vì súng đạn ít, nhưng mà hy sinh về mìn của địch thì nhiều. Với vai trò là người lính đặc công chuyên dò phá bom mìn, ông luôn canh cánh trong đầu phải tìm cách khắc phục để giảm bớt thương vong cho đồng đội.

Đặc biệt lúc bấy giờ, địch thường dùng mìn Kleimo 7 - loại mìn có sức công phá lớn, khi nổ sẽ có hàng ngàn viên bi văng ra gây sát thương trong vòng bán kính 30 mét, muốn tháo gỡ loại mìn này phải mất gần 40 phút. Qua tìm hiểu, thu thập thông tin, Lê Hữu Đạt đúc kết ra rằng, mìn của địch thường có 4 dạng phổ biến: Đè nổ, đè vướng nổ, căng nổ và căng trùng nổ. Tất cả 4 loại mìn này đều dùng bằng pin để kích nổ.

Bởi thế, sau khi gỡ được mìn, ông lấy pin về tận dụng thắp sáng đơn vị trong những cuộc họp để tránh lãng phí. Khi đã tìm ra được tính năng, cấu tạo và sức công phá của mỗi loại mìn, mỗi khi gặp mìn, ông phản ứng nhanh và xử lý tháo gỡ chỉ trong vòng chưa đầy 2 phút. Cũng chính vì khả năng gỡ mìn nhanh nên đã góp phần giảm thương vong cho bộ đội từ 80-90%. Ông được anh em trong đơn vị phong danh hiệu "Vua phá mìn". Từ đây, cách phá mìn của ông được tiểu đoàn phổ biến rộng trong toàn đơn vị và các đơn vị trong toàn tỉnh học tập.
Tổng kết chiến tranh, ông Lê Hữu Đạt đã cùng với đồng đội phá gỡ hơn 3.000 quả mìn các loại, riêng ông trực tiếp phá gỡ gần 1.000 quả mìn an toàn. Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 7 Huân, Huy chương các loại.

Ông Hoàng Đình Thẻ, nguyên là Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 408, người trực tiếp chỉ huy trận đánh phá ấp Kồ năm 1972 kể: Lúc bấy giờ, đồng chí Đạt có nhiệm vụ nắm tình hình, dò gỡ mìn, khắc phục vật cản mở đường cho đồng đội tiến vào. Xung quanh đồn địch được cài bởi nhiều rào chắn và bẫy mìn.

Khi áp sát hàng rào thứ nhất, Đạt phát hiện có mìn Kleimo vội ra hiệu cho đồng đội dừng lại. Nhưng vì đánh trận vào ban đêm, trời quá tối nên đồng đội không nhận được tín hiệu và cứ thế tiến lên, trong khi phía trước cách 10m là địch bố trí đại liên và đủ các loại súng trường... Trước tình hình nguy cấp, đồng chí Đạt đã nằm đè lên ôm trọn quả mìn trong lòng, sau đó dùng răng tách rời, cắn đứt từng sợi dây dẫn vô hiệu hóa quả mìn. Sự việc diễn ra an toàn trong bóng tối, nhưng chỉ cần một sai sót nhỏ thì quả mìn với hàng ngàn viên bi sẽ găm trọn vào người.

Năm 1972, trong một trận đánh vào ấp Gờ Hô, sau khi phá rào vào được bên trong, bị địch phát hiện, đồng chí Đạt đã dùng bộc phá chặn đường truy kích của địch. Sau tình huống này, đồng chí Đạt bị quả bộc phá hất văng vào hàng rào và bị điếc tai bên trái. May mắn sau đó anh em đã cứu được và đưa về đơn vị chữa trị".

Hết đánh Mỹ, Lê Hữu Đạt trở thành cán bộ quân quản của thị xã Pleiku và tiếp đến là tham gia chiến dịch biên giới Tây Nam. Bằng những kinh nghiệm thực tế trong chiến tranh, ông đã tham gia trực tiếp gỡ mìn trong chiến tranh biên giới Tây Nam. Theo ông, mìn ở đây có một chút khác biệt so với mìn của Mỹ, cũng là mìn đè nổ nhưng sau khi đè xuống sẽ tung lên không trung rồi mới nổ và bán kính sát thương không rộng.

Vì thế, lúc nào trong người ông và nhiều đồng đội khác cũng mang theo sợi dây bên mình, nếu phát hiện ra mìn thì xử lý bằng cách lấy dây cột vào dây mìn và kéo nhẹ đến vị trí an toàn mới giật nổ. Kết thúc chiến dịch, ông trở về công tác ở Ban tác chiến của Huyện đội An Khê rồi về Ban tác chiến của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh. Năm 1994, ông được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện Chư Prông và đến năm 2001 thì nghỉ hưu.

X.Hoàng - D.Phước - T.Nguyên

Bình luận

ZALO