Biên phòng - Từ xa xưa, nghề đúc lưỡi cày của người Mông ở xã vùng cao Bản Phố đã nổi tiếng khắp vùng Bắc Hà - Lào Cai. Thế nhưng, trải qua hàng chục thế hệ tiếp nối, giữ gìn, giờ đây, cái nghề vốn mang trong mình nó những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc Mông này đang đứng trước nguy cơ bị mai một và đứng trước nguy cơ thất truyền...
![]() |
| Một lò đúc lưỡi cày của người Mông Bản Phố. |
Theo nghề đúc lưỡi cày từ lúc còn để chỏm, ông Sùng Seo Nhà là một trong những nghệ nhân nổi tiếng khắp vùng Bắc Hà - Lào Cai. Cách đây mới 5 năm thôi, lò đúc lưỡi cày nhà ông không khi nào tắt lửa. Lúc cao điểm, hàng chục người tới đặt lưỡi cày, thậm chí ngủ lại nhà uống rượu, chờ hôm sau lấy hàng, khiến vợ chồng ông và 8 người con phải thức trắng đêm làm kịp cho khách.
Thế nhưng, hơn nửa thế kỷ làm nghề, kể từ ngày trở thành thợ chính cho đến nay, chưa bao giờ ông Nhà thấy nghề đúc lưỡi cày lại bị "tụt dốc" như hiện nay. Cả xã Bản Phố chỉ còn gần chục nhà đỏ lửa lò nấu gang, hoạt động cầm chừng và đầu ra hoàn toàn phụ thuộc vào những phiên chợ văn hóa Bắc Hà ngày Chủ nhật, thay vì những mối hàng quen như trước đây.
"Nghĩ lại ngày xưa mà thấy buồn! Hồi đó, tiếng lưỡi cày Bản Phố vang xa khắp mường trên, bản dưới. Những nhà có lò đúc đều ăn nên làm ra. Hầu như gia đình nào làm nghề thì tất thảy các thành viên trong nhà đều biết việc. Đàn ông, con trai được người lớn truyền nghề, còn phụ nữ thì làm những việc phụ trợ và đem lưỡi cày đi bán. Bây giờ, nghề này đang thất thế, tôi lo không còn cơ hội để giữ nghề của cha ông…" - Ông Nhà chậm rãi tâm sự với chúng tôi.
Theo ông Nhà, đúc lưỡi cày là công việc khó, không phải ai cũng làm được. Ngoài việc phải thạo nghề, người thợ cần có kinh nghiệm vì phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, từ làm khuôn, tạo hình, nung khuôn, đổ gang, làm nguội. Tất cả các công đoạn trong quá trình đúc đều rất quan trọng nên đòi hỏi thợ đúc phải hết sức tỉ mỉ và tập trung cao độ, chỉ cần sơ ý là toàn bộ sản phẩm sẽ phải bỏ đi và làm lại từ đầu.
Chính vì vậy, nghề đúc lưỡi cày đòi hỏi người thợ làm nghề phải có tính kiên trì và lòng đam mê, nhiệt huyết rất lớn mới có thể cho ra đời một sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Do đất canh tác ở vùng Bắc Hà lẫn nhiều sỏi đá nên một chiếc lưỡi cày đạt chuẩn phải dựa vào hình dáng cong, "thuôn" đặc thù và quan trọng nhất là độ cứng, sao cho khi cày, nếu va vào vật cứng thì người cày chỉ nâng nhẹ hay lượn trái hoặc phải là "lách" được mà lưỡi cày vẫn không hề hấn gì.
"Với địa hình chủ yếu là núi đá, đồng bào mình phải canh tác trên diện tích đất trồng hẹp toàn là đá lổn nhổn nên việc cày, cấy rất khó khăn. Những lưỡi cày thông thường dưới xuôi khi dùng ở vùng đất này đều bị gãy, hỏng. Để đạt được điều đó thì người thợ đúc lưỡi cày ở đây phải có kinh nghiệm trong công đoạn nung thép, chế tác độ dày mỏng của sống và lưỡi cày. Đặc biệt, thép phải được đưa vào lò nung vừa đủ thời gian theo bí quyết riêng thì lưỡi cày mới cứng và bền..." - Ông Nhà tiết lộ.
Để lửa nghề thôi nguội lạnh
Dẫn chúng tôi ra lò đúc tại nhà, anh Sùng Seo Lử, con trai thứ ba của ông Nhà vơ vội nắm củi vụn, nhóm lửa, vừa kéo máy gió thổi để "trình diễn" theo đề nghị, vừa cho biết, đã hàng thế kỷ, nghề đúc lưỡi cày cho thu nhập cao, công việc ổn định nên nhiều thanh niên người Mông ở Bản Phố đều muốn theo nghề này. Gần đây, không mấy ai mặn mà với nghề, vì tập quán canh tác của người dân trên vùng Bắc Hà thay đổi, người ta bắt đầu quen dùng máy cày và cả lưỡi cày mua từ Trung Quốc với giá rẻ hơn, dẫn đến nghề đúc lưỡi cày bấp bênh, thu nhập không đều và ổn định. Nhiều khi, cả một phiên chợ, chỉ bán được vài chiếc nên nhiều lò đúc phải tính đến chuyện đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng.
"Bây giờ, lớp trẻ không còn mặn mà với việc học nghề đúc lưỡi cày nữa, do nghề này vất vả, cực nhọc, đòi hỏi kỹ thuật khắt khe, đã thế, sản phẩm làm ra không có nơi tiêu thụ. Thêm nữa, bọn thanh niên chỉ thích đi làm thuê để lấy được tiền nhanh. Nhiều đứa đang học việc tại các xưởng đúc lưỡi cày bỏ ngang đi làm phụ hồ xây dựng, làm công nhân khai thác đá làm đường. Chẳng biết sau này còn ai giữ nghề đúc lưỡi cày của người già truyền lại nữa không…" - Ánh mắt buồn xa xăm nhìn lò nung nguội lạnh, anh Lử nói như nghẹn lại.
![]() |
| Chỉ có lưỡi cày của người Mông mới "trị" được đất ruộng vùng cao nguyên đá. |
"Điều đáng nói là cái nghề đặc biệt này không chỉ có lợi đơn thuần về mặt kinh tế vì nó có sức hút rất lớn đối với khách du lịch, góp phần làm nên một "thương hiệu" vùng cao Bản Phố. Nhưng thật đáng lo, trải qua hàng thế kỷ hình thành và phát triển với nhiều thế hệ nối tiếp giữ gìn nghề truyền thống có giá trị văn hóa độc đáo này, đến nay, nghề đúc lưỡi cày Bản Phố đang đứng trước những nguy cơ bị mai một, đứng trước nguy cơ thất truyền..." - Ông Phừ nhấn mạnh.
Chia tay Bản Phố trong cái nắng hanh hao đầu đông, mỗi người có một tâm trạng riêng, song chúng tôi đều có chung một ý nghĩ: Liệu một mai quay lại vùng cao này, có còn gặp ông Sùng Seo Nhà cùng các con của mình ngồi đúc lưỡi cày? Hay lò đúc đã tắt lửa, những âm thanh chát chúa trong mỗi sáng sớm đã lùi vào dĩ vãng và sản phẩm lưỡi cày Bản Phố nổi tiếng một thời không còn trụ được với thời gian? Hướng đi nào để gìn giữ nghề truyền thống quý báu này?
Trả lời câu hỏi ấy của chúng tôi, nhiều chuyên gia tâm huyết với văn hóa của vùng đất Bắc Hà đều cho rằng, hiện tại, trong những nỗ lực để bảo tồn và phát triển nghề đúc lưỡi cày truyền thống của người Mông Bản Phố, thì việc quan trọng mà chính quyền địa phương cần làm là tích cực giáo dục cho lớp trẻ hiểu rõ giá trị văn hóa lịch sử, đồng thời động viên họ tiếp tục giữ gìn và phát triển nghề.
Thêm vào đó, trước sức ép của nền kinh tế thị trường, muốn vực dậy một nghề truyền thống đang có nguy cơ mai một cần có sự hợp sức của các ban, ngành chức năng từ huyện đến tỉnh. Tìm kiếm được nguồn vốn đầu tư để giúp người dân cải tiến kỹ thuật và mở rộng sản xuất, phát triển du lịch thông qua ngành nghề truyền thống là bước tiến quan trọng để khôi phục và phát triển lại những lò lửa đúc lưỡi cày đang dần nguội lạnh...








