Biên phòng - Dân ca, dân vũ, dân nhạc là loại hình diễn xướng dân gian của dân tộc Việt, được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) trên toàn quốc nói chung, người Ê Đê ở tỉnh Phú Yên nói riêng đã và đang góp phần xây dựng và phát triển di sản văn hóa phi vật thể của người DTTS ở tỉnh Phú Yên.
Lời ru bằng nhạc điệu
Mỗi con người, Kinh hay người DTTS… từ khi sinh ra, theo tiếng khóc chào đời đã được nghe tiếng ầu ơ của mẹ. Tiếng ru, tiếng hát cất lên không chỉ để ru con vào giấc ngủ, có khi dùng để truyền đạt tình ý, vốn sống, chia sẻ trải nghiệm trong lao động trồng trọt, chăn nuôi. Đôi khi, đó là lời thỉnh đạt ý nguyện đến các thần linh núi rừng, sông nước, hay tỏ bày tình yêu lứa đôi, có duyên, có nợ sẽ về ở chung một nhà…
Mỗi cá nhân trong cộng đồng, khi vừa sinh ra được nghe tiếng hát vỗ về của mẹ bằng nhạc điệu của lời ru, cho đến khi về cõi vĩnh hằng cũng có những lời ca, tiếng khóc theo vần điệu của người thân và buôn làng thương tiếc, ngậm ngùi đưa tiễn họ về với “suối vàng”. Qua tìm hiểu, được biết, tiếng hát của người Ê Đê được chia thành nhiều loại, như: “H’ri hậy” dùng phổ biến ở nhiều dạng sinh hoạt, đặc biệt là ở hội làng buôn, mang tính diễn cảm; “H’ri ting-rang” mang tính trữ tình, được sử dụng trong khung cảnh nhẹ nhàng giữa hai người; “H’ri cô-ning”, là loại hát đối đáp ứng khẩu theo những giai điệu nhất định. Trong đó, thể loại hát ru là sự giao cảm giữa mẹ và con, nên giai điệu âm nhạc thường êm dịu, thanh thoát, bình dị, nội dung lời ca mộc mạc, gần gũi, mang tính giáo dục, cảm hóa đậm tính nhân văn.
Cùng với dân tộc Ê Đê ở vùng Tây Nguyên, thể loại dân ca hát ru Chơnăk là một trong những thể loại hát phổ biến nhất của người Ê Đê ở Phú Yên. Mỗi bài Chơnăk dài hàng nghìn câu, với những nội dung: Kể về các cuộc xung đột với các vị Tù trưởng (M’tao); hay “trai làng giữ gái làng ta”; hoặc xâm chiếm đất đai giữa buôn làng này, với địa phương khác… Người kể Chơnăk thể hiện câu chuyện qua giọng hát, lúc trầm, lúc bổng, lúc hào hùng, khi thanh thoát, lúc thong thả, lắng sâu, man mác.
Hiện nay, ở xã Krông Pa, huyện Sơn Hòa có nghệ nhân Ma Nghin là người rất giỏi hát Chơnăk. Khi ở buôn làng có tổ chức các sự kiện, Ma Nghin ngồi bên bếp lửa, ông kể chuyện “Dấu chân chàng Y Rít”. Theo truyền thuyết, thuở xưa, có một chàng trai Ê Đê vóc dáng cao to ở buôn Tan (nay là buôn Chơ, xã Krông Pa, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên) đi tìm trâu lạc ở dưới chân núi K’Lô. Khi lội qua sông Cà Lúi (huyện Sơn Hòa), chàng Y Rít dẫm bàn chân in đậm trên một tảng đá to ở bến nước buôn Chơ và nay còn lưu dấu.
Kho tàng dân nhạc phong phú
Người Ê Đê ở Phú Yên tương đồng văn hóa của người Ê Đê ở Tây Nguyên về điệu múa chim Grứ (chim đại bàng) - là một trong những điệu múa phổ biến ở các lễ hội lớn, hay trong nghi lễ cúng Yàng (trời). Múa chim Grứ được coi như phương tiện đưa linh hồn người chết về thế giới của tổ tiên. Tôi cũng được xem điệu múa này ở xã Ea Trôn, huyện Sông Hinh trong một lễ cúng bỏ mả. Khi múa, người ta đưa tay lên uốn lượn để người xem tưởng tượng ra như cái đầu, hoặc đôi cánh chim đại bàng đang bay lượn trên cây K’nia.
Những nghệ nhân múa say sưa, lúc thì đưa tay lên cao, lúc thì xòe ra uyển chuyển. Thông qua động tác múa chim Grứ thể hiện lời chào từ biệt của người còn sống đối với người đã qua đời. Ông Ma H’ Lin, ở xã Suối Trai, huyện Sơn Hòa cho biết: “Điệu múa chim đại bàng chỉ cần 3 đến 5 người nữ là có thể biểu diễn được, không cần phải nhiều người như múa xoang có tới 15 đến 20 nam nữ. Đặc biệt, múa điệu chim Grứ phải có múa trống đôi mới sinh động, phong phú”.
Một loại nhạc cụ đặc biệt khác là cồng ba, gồm có 3 chiếc, với các tên gọi Mong (chiếc nhỏ nhất), Môn (chiếc trung bình) và Anưa (chiếc lớn nhất). Cồng ba được đánh khi buôn làng có người qua đời và phục vụ trong tang lễ. Chiêng (chinh) năm, gồm có 5 chiếc với các tên gọi Tươn, Điên, Pochê, Na pơ rơn và Nasat. Chiêng 5 chỉ đem ra dùng khi có đám tiệc như mừng tuổi con trai, con gái trưởng thành, vui mừng đám cưới, mừng nhà mới và các lễ cúng quan trọng như: Cúng bến nước, rước hồn lúa, đâm trâu - xoay cột… Chiêng Knah gồm có 5 chiếc không có núm.
Trong đó: chiêng Knah anah gọi là chiêng bà ngoại; Hliang là chiêng cha; Đai-Hliang là chiêng con; Khất là chiêng mẹ; Đai-Khất là chiêng con gái cả. Chiêng Gril gồm có 3 chiếc, dân tộc Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, nên chiêng lớn là bà ngoại, chiêng trung bình là mẹ và chiêng nhỏ tượng trưng cho con gái. Người Ê Đê ở Phú Yên còn có chiêng Aráp từ 16 đến 18 chiếc. Trong đó, có 3 chiếc chiêng có núm làm chức năng giữ nhịp, các chiêng còn lại với chức năng phần giai điệu. Chiêng A ráp thường sử dụng trong lễ bỏ mả.
Già làng Y Típ sinh sống tại xã Ea Trôn, huyện Sông Hinh cho biết: “Ngoài cồng, chiêng, Aráp, nhạc cụ trong sinh hoạt văn hóa của dân tộc Ê Đê ở Phú Yên còn có: Đing ta lé (sáo trúc); Đinh đong (đàn nhị), hai nhạc cụ này sử dụng sinh hoạt trong gia đình lúc nông nhàn và lễ hội cộng đồng. Đinh Goong (đàn bầu) đánh lúc ngủ ở rẫy; tù và làm bằng sừng trâu thổi vào dịp lễ tế cho các vị thần linh, hoặc tụ họp dân làng khi có việc đột xuất, hay xảy ra hỏa hoạn, hoặc có người chết bất đắc kỳ tử ở trong buôn”
“Dân ca, dân vũ và dân nhạc là những di sản quý báu mà người Ê Đê tỉnh Phú Yên được thừa hưởng qua các thế hệ. Hiện nay, họ vẫn luôn có ý thức gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình và cùng phát triển trong sự thống nhất, đa dạng của nền văn hóa chung của dân tộc Việt Nam”. - Nhạc sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Cao Hữu Nhạc, nguyên Trưởng đoàn Ca múa nhạc Sao Biển, tỉnh Phú Yên khẳng định.
Hoàng Hà






