Biên phòng - Tại sao Pháp đến Đông Dương lại phát triển ngôn ngữ dân tộc Việt Nam là chữ Việt ngày nay? Họ chú trọng cả tiếng Việt và tiếng của thổ dân ít người trên miền núi? Lý do gì để Pháp phải đầu tư tài trợ cho các nhà truyền giáo và các công trình nghiên cứu ngôn ngữ khác nhau, kể cả vùng ít người ở Đông Dương? Với sức mạnh vũ khí và văn hóa lớn như Pháp sao không thôn tính luôn ngôn ngữ tiếng Việt, Tày, Nùng, Bana, Ê đê... trong khi châu Phi, nhiều ngôn ngữ bị xóa bỏ khi thành thuộc địa của Pháp.
![]() |
Múa khèn, một nét văn hóa độc đáo của dân tộc Mông. Ảnh: Thái Vũ |
Khi bình định miền Nam Việt Nam đã hoàn thành, Pháp tràn ra Bắc. Sau khi đổ bộ từ Hải Phòng bằng cớ tàu buôn Dupuis, Pháp chiếm Bắc Việt Nam. Người Pháp sau năm 1886 coi như nắm toàn bộ Đông Dương. Khi tình hình tại đây tương đối ổn định, để bảo đảm sự bình định trên toàn lãnh thổ Đông Dương, Pháp bắt đầu quan tâm đến khu vực biên giới.
Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam là khu vực nhạy cảm nhất. Phía Bắc nằm giáp với Trung Quốc, một nước lớn. Đặc thù miền núi vốn cư dân rải rác, nhiều ngôn ngữ không thống nhất, nhưng lại là khu vực có thể ẩn chứa nhiều tiềm họa về chiến tranh du kích. Rừng núi là lợi thế của chiến tranh du kích, là vũ khí của đối tượng có lực lượng mỏng, yếu trong cuộc chiến không cân sức. Để có thể giành được thắng lợi, họ đã tận dụng thế mạnh là thông thuộc phong thổ và ngôn ngữ để tấn công lại kẻ xâm lược. Vì thế ngay từ đầu thế kỷ, năm 1908, Pháp đã bắt đầu cho người đi nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa nơi đây để tìm cách bình định và chặn sự ảnh hưởng và sự xâm lấn của Trung Quốc khi Pháp chưa ổn định hoàn toàn ở Đông Dương.
Văn hóa là một vũ khí lợi hại. Bảo vệ ngôn ngữ dân tộc ít người là bảo vệ đa sắc màu của dân tộc, đồng thời với sự quan tâm của chính quyền đến dân tộc ít người, cũng là để khẳng định chủ quyền đất nước mình. Văn hóa là bằng chứng sống động để con cháu biết đó là mảnh đất của chúng ta. Văn hóa và ngôn ngữ là vũ khí lợi hại để khẳng định chủ quyền đất nước. Ngôn ngữ là chiếc gương phản ánh sống động nhịp sống của mỗi dân tộc, qua mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.
Thực dân Pháp ý thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu văn hóa vùng núi phía Bắc. Đầu thế kỷ 20, theo lời kể của linh mục Sa-vi-na, ông đã được giao nhiệm vụ đi truyền giáo ở vùng phía Bắc Đông Dương. Ông đã lên đây ghi chép và học thổ ngữ trên danh nghĩa của nhà truyền đạo. Ông học nhiều thổ ngữ, nhưng đặc biệt là tiếng Tày vì người Tày chiếm số đông dân số sau người Kinh. Ông đã cho ra đời cuốn từ điển Tày - An Nam - Pháp, trong khi Việt Nam lúc đó chưa có cuốn từ điển của các tiếng dân tộc thiểu số với tiếng Nôm. Điều này chứng tỏ vua chúa chỉ quan tâm đến tiếng Trung Quốc chứ chưa quan tâm đến tiếng thiểu số và quên một vũ khí văn hóa lợi hại để bảo vệ lãnh thổ của mình.
Tiếng dân tộc ít người cũng như chữ viết cổ của họ có thể là cội nguồn của dân tộc Việt Nam xưa. Nên bảo tồn tiếng nói không những là bảo tồn văn hóa, sắc thái đa phong phú của một đất nước do nhiều bộ lạc hợp lại, đồng thời bảo tồn được ngôn ngữ cổ của ông cha. Đó cũng là một vũ khí để chứng minh nguồn gốc dân tộc và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Sự học song đồng ngôn ngữ Kinh và ngôn ngữ dân tộc ít người là hết sức cần thiết cho việc nghiên cứu nguồn gốc của dân tộc Bách Việt.
Theo thống kê năm 2009, dân tộc Kinh chiếm 86,2%, còn lại là dân tộc ít người. Con số chưa đến 13,8%, chia cho 53 dân tộc ít người, có những bộ tộc chỉ có hơn 300 người: Brâu (313), Ơ ru (315), Rơ măm (352 người) ở Tây Nguyên, Kon Tum. Do cách xa với văn minh thành thị, nhiều bộ tộc còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, phong tục tập quán cổ hủ. Giao lưu văn hóa sẽ giúp họ xóa bỏ những tục lệ cổ hủ phong kiến và giữ được những truyền thống đẹp như điêu khắc, âm nhạc, trang phục, nghi lễ đón Giàng, cám ơn Trời Đất... Giữ gìn bảo vệ văn hóa ngôn ngữ dân tộc ít người cũng là một hình thức giữ gìn bảo vệ môi trường trong sạch đang có xu hướng bị xã hội công nghiệp đầy ô nhiễm khói bụi xi măng lấn chiếm. Vùng văn hóa dân gian nếu được giữ gìn bảo tồn sẽ là một bảo tàng thiên nhiên, là buồng phổi để giúp vùng công nghiệp một luồng ô xy trong sạch. Đó sẽ là những nơi nghỉ mát du lịch, bù lại những tháng ngày hít bụi công nghiệp của thành phố lớn.
Ngày nay hòa nhập vào thế giới, văn hóa ngôn ngữ dân tộc ít người chính là một bảo tàng thiên nhiên sống động, một hình thức bảo tồn đa sắc hoa dân tộc, bảo vệ lá phổi trong sạch cho những thành phố lớn luôn bị ô nhiễm.
Song tồn ngôn ngữ là một giải pháp hữu hiệu và nhân bản đưa những dân tộc ít người hòa nhập cộng đồng và bảo tồn văn hóa. Để bảo tồn ngôn ngữ, chính bản thân thổ dân phải phát triển kinh tế, văn hóa không ngừng. Ngay giữa Hà Nội, những làng bánh cuốn, làng dệt, làng hoa đã chết vì sự xâm lấn của thành phố. Đó là điều rất đáng tiếc khi chúng ta chỉ nghĩ đến công nghiệp hóa, mà không nghĩ đến bảo vệ văn hóa cổ truyền và bảo vệ những lá phổi của đất nước.
Bảo vệ ngôn ngữ văn hóa dân tộc ít người là bảo vệ một bảo tàng sống, một nguồn du lịch để giúp phát triển kinh tế đất nước và đánh dấu chủ quyền của đất nước.







