Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 10:41 GMT+7

Bắt giữ Ngô Đình Diệm giữa những ngày Cách mạng tháng Tám lịch sử

Biên phòng - "Chỉ một ngày sau khi Cách mạnh tháng Tám thành công, Ngô Đình Diệm (sau này là Tổng thống chế độ ngụy Sài Gòn) đã bị dân quân phường 6 bắt giữ khi chiếc thuyền chở ông ta vừa ghé vào làng biển này để lẩn trốn. Vài tháng sau đó, người dân phường 6 lại đón cô Ba Định (sau này là Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam) về đây nằm vùng hoạt động, để chuyển vũ khí tiếp ứng cho chiến trường miền Nam". Ở tuổi 83, chân yếu, mắt mờ, song mỗi khi kể chuyện về những ngày Cách mạng tháng Tám, cụ Trần Công Khánh, một vị lão thành cách mạng ở phường 6, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên vẫn luôn rạng ngời niềm vui.

9a-1.JPG
Cụ Trần Công Khánh kể chuyện 70 năm trước, Đội tự vệ phường 6 dẫn giải Thượng thư Bộ Lại Ngô Đình Diệm của triều đình Bảo Đại về đình làng này.
 
Ngời sáng khí chất cách mạng

Nằm ở vùng hạ lưu, bên tả ngạn sông Đà Rằng đổ ra biển, phường 6, TP Tuy Hòa được biết đến như vùng đất rất yên bình, với những cư dân cả một đời cần cù bám biển mưu sinh. Ít ai biết, trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám, khí chất cách mạng của người dân nơi đây đã tỏa sáng, trở thành nét son đẹp trong lịch sử vùng đất này.

Cụ Khánh kể, năm 1945, cùng với mọi miền đất nước, khí thế quần chúng làm cách mạng ở TP Tuy Hòa lan rộng và phát triển rất nhanh, nhất là khi ông Trần Suyền - một cán bộ của Tỉnh ủy Phú Yên thời bấy giờ, từ miền Bắc trở về, truyền thông điệp kêu gọi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Hồ Chủ tịch.

Hôm ấy, có khoảng 1.000 người dân ở phường 6 tập hợp lại thành đoàn biểu tình, mang theo trống, cờ, gậy gộc, xuống đường hướng thẳng về phía sân bay, khuếch trương uy thế cách mạng để trấn áp bọn thực dân, phong kiến. Khí thế ào ạt của đoàn người cứ thôi thúc cậu bé 12 tuổi Trần Công Khánh xin được theo chân những bậc cha chú trong làng gia nhập vào đoàn quân.

Ngay sau cuộc mít-tinh ở sân bay, đoàn người kéo về trụ sở Ủy ban cách mạng lâm thời (UBCMLT) thị xã Tuy Hòa (nay là UBND TP Tuy Hòa) để bầu cử chính quyền cơ sở theo hình thức dân cử. Trước sự sụp đổ của chính quyền thực dân, phong kiến, người dân phấn khởi, tích cực gia nhập vào các tổ chức đoàn thể, tích cực truy quét bọn thực dân, quan lại tàn dư của chính quyền tay sai và ủng hộ Việt Minh.

Kể về chuyện bắt Ngô Đình Diệm, khuôn mặt cụ Khánh sáng lên đầy tự hào. Cụ nhớ lại, đêm 30-8-1945, trong khi đi tuần dọc bờ sông Đà Rằng, ông Mai Sanh, Đội phó Đội tự vệ phường 6 lúc bấy giờ và cụ Lê Thân - một lão bạch đầu quân đã phát hiện một chiếc ghe bầu lạ, kiểu dáng miền Nam khác với ghe thuyền vùng này. Lập tức, hai người báo cáo với ông Phạm Xút - thành viên UBCMLT phường 6 và được lệnh kiểm tra ghe. Rạng sáng 1-9, từ phương tiện đậu gần đó, 2 thành viên Đội tự vệ phường 6 tiếp cận chiếc ghe lạ và kiểm tra.

Trên ghe này có tên Bang Hưng - một tên gian ác nổi tiếng ở thị xã Tuy Hòa và vài người lạ. Trong đó, đối tượng đáng lưu ý là một người to, mập phốp pháp, mặc áo dài, đầu đội khăn đóng, đi giày đen. Đội phó Mai Sanh yêu cầu Bang Hưng và người lạ mặt vào bờ kiểm tra, nhưng cả hai ương bướng không chấp hành. Lập tức, ông Mai Sanh rút ngay ra sợi dây thừng như sắp sửa trói, còn cụ Lê Thân dí ngay con dao vào họ để uy hiếp. Người lạ mặt miễn cưỡng xuống nước, vừa trọ trẹ giọng Khu 4: "Thủng thẳng rồi tụi tau đi, chớ làm chi mà hung dữ rứa mi!".

Đưa Bang Hưng và người đàn ông lạ mặt lên bờ, lực lượng dân quân tiếp tục giải họ về lẫm (đình) phường 6, giao cho cán bộ UBCMLT phường lập biên bản. Lúc này, người lạ mặt mới khai ông ta là Ngô Đình Diệm, quan Thượng thư Bộ Lại của triều đình Bảo Đại. Ông ta cho biết, trong lúc đang công du ở miền Nam, nghe tin triều đình Bảo Đại bị lật đổ, ông ta quay trở về tìm cách khôi phục chế độ cũ, nhưng thấy khí thế cách mạng của quần chúng sục sôi nên chuyển ý định, ghé vào đây trú ẩn cho an toàn.

Theo ông Khánh, khi bắt ông Diệm, hầu hết bà con trong làng chưa ai biết gì về thân thế của ông ta. Mọi người chỉ nghĩ đơn giản, có người lạ vào làng là bắt giữ, giám sát không để họ gây nguy hại cho dân. "Hồi đó, cuộc sống, suy nghĩ đơn giản nhưng tinh thần cách mạng trong người dân sục sôi, khí thế và cảch giác lắm" - Ông Khánh tự hào kể.

Sau một thời gian được chuyển qua nhiều địa chỉ trú ngụ, Ngô Đình Diệm được đưa về tỉnh lỵ Sông Cầu, trước khi ra Huế và Hà Nội. Sau này, dù làm tay sai bán nước, nhưng Ngô Đình Diệm vẫn cảm kích thừa nhận, thời gian bị bắt, bị tạm giữ tại Phú Yên đã được chính quyền cách mạng và  dân quân Phú Yên đối xử rất tử tế.

Bến chuyển vũ khí

Ngày 23-9, sau ngày nước nhà độc lập đúng 3 tuần, thực dân Pháp theo chân quân Anh trở lại gây hấn ở Nam bộ, nhân dân Nam bộ nhất tề vùng lên kháng chiến. Đầu năm 1946, một đoàn cán bộ của các tỉnh phía Nam, trong đó có bà Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, ra miền Bắc gặp Bác Hồ và Chính phủ xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam đánh Pháp. Sau khi làm việc, Trung ương đồng ý đề xuất và giao cho bà Nguyễn Thị Định tổ chức tuyến đường vận chuyển vũ khí, lấy vùng tự do Khu 5 làm nơi trung chuyển (tức là đoàn nhận vũ khí tại Quảng Ngãi rồi vận chuyển bằng tàu lửa vào Phú Yên, từ đó tiếp tục đi bằng đường biển vào Nam bộ).

Cụ Khánh nhớ lại, một ngày đầu tháng 6-1946, Hội Phụ nữ và chính quyền thị xã Tuy Hòa đưa một người phụ nữ trẻ có khuôn mặt hiền và rất đẹp tên là Nguyễn Thị Định (còn gọi là cô Ba Định) đến phường 6, giới thiệu cho sinh hoạt tại đây một thời gian và đề nghị cử người dạy cho cô ấy biết bơi. Cùng lúc đó, phường 6 còn được cấp trên giao việc đóng thuyền buồm để cô Ba Định điều hành chuyển vũ khí vào Nam.

Cô Ba Định được bố trí ở tại nhà bà Châu Thị Nghĩa, Hội trưởng Hội Phụ nữ phường 6 và tham gia sinh hoạt cùng chị em trong Hội Phụ nữ phường. Ban đêm, cô Ba nói chuyện với bà con về một số chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Đông Dương, tình hình trong nước và thế giới, phát động quần chúng tham gia phong trào cách mạng. Ban ngày, cô cùng với trung đội tự vệ nữ ra bãi biển luyện tập quân sự, tập bơi lội, tập điều khiển ghe thuyền bằng chèo, bằng buồm.

"Cô Ba Định tập bơi rất chăm chỉ, nhiều bữa cô bơi thuyền thúng vượt sông Đà Rằng ở đoạn cửa sông để quen dần với sóng gió. Vì ráng tập, có hôm cô kiệt sức, mệt lả, bà con nhìn thấy rất thương. Tuy vậy, nhờ kiên trì tập luyện, một thời gian ngắn cô đã bơi thành thạo" - Ông Khánh nhắc lại kỷ niệm.

Chuyện đóng tàu, Ban cách mạng lâm thời đã chọn 5 thợ đóng thuyền có tay nghề điêu luyện do ông Hồ Đa làm Tổ trưởng. Tổ đóng thuyền cùng với cô Ba Định tổ chức lên rừng chặt cây, ngày đêm cần mẫn xẻ gỗ, đóng thuyền. Hì hục hơn một tháng, họ đã cho hạ thủy một chiếc thuyền buồm dài 12 mét, rộng 2 mét, đủ sức chứa 15 tấn hàng. Sau một thời gian chuẩn bị, số vũ khí do Trung ương cấp đã tập kết đầy đủ, đưa về bến cảng phường 6.

Một đêm mùa đông năm 1946, trời tối đen như mực, gió bấc thổi mạnh, cô Ba lưu luyến tạm biệt đồng đội và bà con Phú Yên, phát lệnh cho thuyền xuất bến, vượt cửa biển Đà Diễn. Đến cuối năm 1946, con thuyền đã cập bến Thạnh Phong (huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre) an toàn, mang theo 12 tấn vũ khí Trung ương chi viện cho chiến trường Nam bộ phục vụ kháng chiến.
Phương Oanh

Bình luận

ZALO