Biên phòng - Miền Tây Bắc ẩn chứa trong lòng biết bao kho tàng di sản văn hóa quý giá đòi hỏi con người phải dày công tìm hiểu, khám phá, sưu tập giải mã và phát huy. Một trong số kho tàng cổ vật đó là văn bản, văn hóa, thư tịch cổ, tạm gọi tắt là sách cổ.
Sách cổ là loại hình văn hóa được thể hiện bằng các hình thức chữ viết, hình vẽ chạm khắc, các ký hiệu ký tự có nội dung thông tin. Nó vừa là cổ vật vừa là văn vật chứa đựng tri thức bản địa tộc người những kiến thức lịch sử, văn hóa, tôn giáo qua các thời kỳ ở các vùng miền. Nó là cẩm nang sống của người xưa để đồng hành theo vòng đời con người theo chu kỳ mùa vụ tự nhiên, theo sự xoay vần của vũ trụ, siêu nhiên.
Sách cổ là loại hình di sản văn hóa vừa là sản phẩm vật chất thuộc văn hóa vật thể, vừa là sản phẩm tinh thần thuộc văn hóa phi vật thể. Nhờ nội dung biểu đạt và chuyển tải thông tin của sách cổ mà ngày nay, chúng ta phần nào hiểu được quá khứ, giải mã được nhiều điều bí ẩn.
![]() |
| Một trong những hình khắc trong bãi đá cổ Sa Pa. Ảnh: ST |
Có thể nói, Tây Bắc là miền đất của sách cổ bởi sự cổ xưa huyền bí của văn tự ký tự, sự đa dạng về hình thức trên đá, trên gỗ, trên mặt kim loại, trên giấy và đặc biệt là sự khổng lồ về số lượng, dung lượng ở nhiều tộc người có trong tay các văn bản sách cổ.
Văn bản sách cổ nhất Việt Nam, có thể nói là cổ nhất Đông Nam Á là các ký tự khắc trên đá vách hang Đồng Nội, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Đó là hình khắc con thú thuộc loài vật ăn cỏ và ba mặt người có sừng trên đầu. Phải chăng các ký tự cổ trên đá có niên đại một vạn năm này đã ghi chép lại tín ngưỡng nguyên thủy thờ vật tổ thuộc nền văn hóa Hòa Bình hậu kỳ đồ đá. Vật tổ hay nói khác đi là linh vật của họ có thể là hươu, nai, hoẵng... Đó vẫn chỉ là suy đoán còn những ký tự trên đá kía nói gì vẫn còn là điều bí ẩn.
Sách cổ trên đá với vô vàn ký tự có tuổi đời hàng ngàn năm ở Tây Bắc phải kể đến bãi đá cổ Lao Chải, Hầu Thào, Tư Van, Sư Pán thuộc Sa Pa (Lào Cai), bãi đá cổ Hang Chú Bắc Yên, Má Màng Liệp Tè, Thuận Châu (Sơn La), Nậm Dấu Xín Mần (Hà Giang). Các ký tự hoa văn trên hàng trăm trang sách cổ khắc trên đá có nội dung đường cong, đường tròn, bầu dục, đường chéo, song song, hình xoắn, vòng xoáy, vuông, chữ nhật, tam giác, mặt trời, nhà sàn, hình người, chim, thú, hoa, vật cảnh... cùng một số dạng ký tự ngôn ngữ cổ.
Gần một trăm năm qua, kể từ khi phát hiện (năm 1925), các nhà khoa học luôn tìm cách để đọc những trang sách trên đá đó. Có thể đó là bức thiên đồ vũ trụ, bức địa đồ phân chia địa vực cư trú, canh tác hoặc đó là những lời nhắn gửi của tiền nhân ghi lại dấu ấn thời mở đất chinh phục tự nhiên, nhóm lên ngọn lửa khát vọng nơi miền Tây xa ngái.
Các bản sắc đá có niên đại nhiều trăm năm phải kể đến văn bia trên thượng nguồn sông Đà, thuộc huyện Sìn Hồ (Lai Châu), Đà Bắc (Hòa Bình) ghi lại di huấn của Lê Lợi sau cuộc chinh phạt bọn phản nghịch Đèo Cát Hán (thế kỷ IV), khẳng định biên cương phên giậu miền Tây Tổ quốc.
Nội dung văn bia thể hiện: Bọn phản nghịch Mường Lễ (thượng nguồn sông Đà) mặt người dạ thú không chịu theo đức hóa thì phải dẹp ngay cho dứt. Ta (vua Lê Lợi) chẳng sợ gì hiểm trở, sơn lam, chướng khí. Nhưng thế là vì lo nghĩ đến sinh linh trong thiên hạ. Phương lược ra quân thì hai trấn Thao - Đà đường thủy chiến tiễu binh tốt nhất.
Lâu nay, chúng ta xếp trống đồng vào loại cổ vật thiên về dạng văn hóa vật thể bởi giá trị trong nghi lễ, nhạc lễ, trống trận, sang giàu và quyền thế. Ngày nay, chúng ta có thể đọc được trên mặt trống đồng những quan niệm về vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan của người Việt cổ. Những lễ thức hội hè, những sinh hoạt sản xuất, những hình dạng trang phục, những đặc điểm phồn thực đều có thể đọc ra trên mọi trang sách trống đồng. Rất tiếc lâu nay, chúng ta chưa tiếp cận với hoa văn trống đồng như là một văn bản học cổ xưa để đọc và nhận biết giải mã một cách thấu đáo.
Sách cổ Tây Bắc ngoài một số sắc phong, hoành phi, câu đối ở đình, chùa, miếu còn phần lớn là sách cổ gia đình. Đó là các cuốn gia phả, họ phả, tộc phả, sách phản ánh quá trình thiên di tìm đất lập làng, phản ánh tinh thần đấu tranh bất khuất tìm nguồn sống cho dân tộc, cộng đồng. Một lượng lớn sách ghi lại phong tục tập quán, cách thức tiến hành nghi lễ, hội hè, tôn giáo, tín ngưỡng, bài cúng, bài trừ ma tà, bệnh dịch, nghi lễ cưới, tang, nhà mới, giải đen, giải hạn, y học cổ truyền...
Sách cổ Tây Bắc có nội dung văn học rất phong phú. Nhiều bản sách ghi lại ca dao, tục ngữ, hò vè, hát xướng, truyện thơ, sử thi, trường ca, truyện cổ. Nhờ có sách cổ mà ngày nay, chúng ta có thể tuyển chọn, biên dịch, xuất bản trọn vẹn được các tác phẩm dân gian đồ sộ như Mo Mường đẻ đất đẻ nước, út Loát Hồ Liên, Nàng Nga Hai mối, nàng Ườm chàng Bằng Hương (dân tộc Mường), Sống chụ sôn sao, Ẳm Ệt luộng, Khum Lư nàng ưa (dân tộc Thái)...
Cũng như sách cổ trên đá, trên kim loại, sách cổ trên giấy ở Tây Bắc rất đồ sộ, đồng thời chứa đựng nhiều giá trị mà hiện nay chúng ta chưa nhận biết và khai thác đầy đủ. Đã là sách cổ thì việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy nó không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành hoạt động di sản văn hóa. Các ngành như thư viện, ngôn ngữ, văn nghệ dân gian, giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin nên chăng cũng cần vào cuộc tích cực để giúp cho toàn xã hội có cái nhìn đúng đắn và phát huy đúng mức các giá trị trong kho tàng sách cổ Tây Bắc hiện nay. Nên chăng, có đề tài khoa học cấp Nhà nước và có dự án cấp quốc gia để giải mã những bí ẩn của sách cổ, chống xuống cấp cho sách cổ, bởi một cuộc chảy máu trên thị trường và tự hủy hoại theo thời gian.







