Biên phòng - Theo Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Quang Ngọc, bộ Atlas thế giới Brúc-xen nguyên gốc được coi là một trong những bảo vật của Bỉ. Giá trị của nó đã được phân tích trong một công trình nghiên cứu riêng. Bộ Atlas này có giá trị pháp lý quốc tế cao, bổ sung vào kho chứng cứ khổng lồ chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
![]() |
| Bộ Atlas thế giới Brúc-xen đã được giao cho Bộ Nội vụ quản lý, lưu trữ. |
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội được giao Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Suốt cả cuộc đời nghiên cứu khoa học của mình, ông đã dành hết tâm huyết để đi tìm tư liệu về Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng lòng yêu nước, sự say mê và trách nhiệm một nhà khoa học, cuối tháng 4-2014, ông đã nỗ lực đưa bộ Atlas thế giới Brúc-xen từ Bỉ về Việt Nam.
Trong bộ Atlas Brúc-xen cổ này, bản đồ nước ta và đặc biệt là vùng Biển Đông minh chứng rõ ràng chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa (tên quốc tế là Paracels). Điều rất giá trị ở chỗ, đây là một bộ Atlas chi tiết và chính xác tới từng đảo trong quần đảo với công nghệ in và vẽ bản đồ hiện đại nhất thời bấy giờ.
Theo các chuyên gia, bộ Atlas Brúc-xen mang tính khách quan và chính xác cao, chứa đựng những cứ liệu quan trọng, quý giá và thêm một lần nữa khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam đã được lịch sử thế giới ghi nhận (Từ đầu thế kỷ XIX, bộ Atlas nổi tiếng này đã được khai thác sử dụng trên phạm vi toàn thế giới).
Tổng hợp toàn bộ từ 6 cuốn Atlas toàn tập, mang tựa đề "Van-đơ-mai-len, Atlas toàn tập", công trình to lớn này là cuốn Atlas đầu tiên của thế giới với tất cả những bản đồ cùng một tỉ lệ và cũng là cuốn Atlas được in khắc đầu tiên của thế giới. Bản đồ được phát hành nguyên bản từ năm 1825-1827, với nhiều phần, mỗi phần 10 tấm. Nếu ghép tất cả những trang bản đồ lại với nhau, chúng sẽ tạo thành một hình cầu với đường kính 7,755m.
Về giá trị lịch sử của cuốn Atlas, Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc nhấn mạnh: Năm 1827, Phi-líp Van-đơ-mai-len xuất bản bộ Atlas thế giới gồm 6 tập với 7 bản đồ chung của 5 châu lục, 381 bản đồ chi tiết, 40 trang bảng thống kê và nhiều thông tin về địa lý tự nhiên, chính trị, khoáng sản.
Bộ Atlas được hoàn chỉnh trên cơ sở những tấm bản đồ tốt nhất thế giới lúc đó, cùng những thông tin từ quan sát thiên văn hay những chuyến du hành ở nhiều nơi trên trái đất và được vẽ thống nhất theo tỷ lệ 1/1.641.836, kích thước 53,5x37cm. Đây thực sự là một cột mốc lớn đánh dấu giai đoạn phát triển vượt trội của công nghệ vẽ và in bản đồ hiện đại đầu thế kỷ XIX. Đã gần 200 năm nay, bộ Atlas này đã trở thành nổi tiếng, được khai thác và sử dụng ở nhiều nước trên thế giới.
Bản đồ các nước châu Á gồm 111 tấm, được xếp chủ yếu trong tập hai của bộ Atlas. Việt Nam được giới thiệu trong các tấm bản đồ số 97, 105, 106, 110 đều có ghi chú rõ ràng, quần đảo Hoàng Sa (Paracels) thuộc chủ quyền của Đế chế An Nam (Empire d'An-nam). Tờ bản đồ "Một phần Đàng Trong" (Một phần phía Nam) (tờ số 106-châu Á), vẽ liền một mảnh rộng ngang khổ giấy A3, thể hiện rõ đường bờ biển miền Trung Việt Nam từ vĩ tuyến 12 (khu vực tương đương với tỉnh Khánh Hòa hiện nay), trên bản đồ có địa danh Bink-Kang (Bình Khang) và Nhia Trang (Nha Trang) đến vĩ tuyến 16 (khu vực tương đương với tỉnh Quảng Nam hiện nay).
Ở phía ngoài bờ biển có địa danh Champella (Cù Lao Chàm). Đây là bản đồ đầu tiên đã vẽ một cách chính xác vị trí kinh độ, vĩ độ, đặc điểm địa lý, tên gọi phương Tây của các đảo lớn nhất và quan trọng nhất trong quần đảo Hoàng Sa. Phía ngoài khơi, Hoàng Sa được vẽ khá chi tiết và chuẩn xác trong khoảng vĩ độ 16 đến 17 và kinh độ từ 109 đến 111.
Quần đảo Hoàng Sa trong bản đồ có các đảo Pattles, Duncan ở phía Tây; Tree và Lincoln, Rocher au desus de l'eau (bãi đá ngầm) ở phía Đông và Triton ở phía Tây Nam, ngay dưới vĩ độ 16. Investigateur ở sâu xuống phía Nam, khoảng vĩ độ 14,5 và đường đánh dấu phạm vi biển nông hay dải cát nằm ở độ sâu từ 5 đến 10m còn kéo dài đến vĩ độ 14, ngang với Quin Hone (Quy Nhơn) nằm ở phía trong đường bờ biển.
Bên cạnh khu vực được xác định là Hoàng Sa, bản đồ có một bản giới thiệu tóm tắt về Đế chế An Nam, bao gồm các nội dung Phisique (tự nhiên), Politique (chính trị), Statistique (thống kê) và Minéralogie (khoáng sản)… Tiếp liền Một phần Đàng Trong là tấm số 98 mang tên Một phần của Trung Quốc (Partie de la Chine), trong khoảng vĩ độ 18-21 và kinh độ 106-114 vẽ khu vực Quảng Đông và đảo Hải Nam, cho biết biên giới cực Nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam, chưa chạm tới vĩ độ 18.
Cụ thể, tấm số 98 vẽ đường biên giới của Việt Nam với Trung Quốc và điểm cực Nam của Trung Quốc kết thúc ở vĩ độ 22. Còn đường biên giới biển của Trung Quốc chỉ đến phía trên vĩ tuyến 18. Tất cả các bản đồ của Trung Quốc và các bản đồ phương Tây đều cho thấy cực Nam của Trung Quốc là ở đảo Hải Nam, trên vĩ tuyến 18. Và cách thể hiện biên giới của Trung Quốc tại Atlas của Phi-líp Van-đơ-mai-len cũng trùng với tấm bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ của Trung Quốc (1904).
Cả hai bản đồ này đều thể hiện cực Nam của Trung Quốc chỉ tới đảo Hải Nam, còn khu vực quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Điều này không chỉ phản ánh tính khách quan, chuẩn xác của bộ Atlas, mà còn làm tăng thêm giá trị minh chứng chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.
Thêm nữa, từ cách đặt tên tờ bản đồ là Partie de la Cochinchine - Một phần Đàng Trong (Một phần phía Nam), cách thể hiện các địa danh trên đất liền, các đảo ven bờ biển và quần đảo Hoàng Sa ở ngoài khơi vùng biển Việt Nam cùng với cách giới thiệu về Vương quốc An Nam lúc bấy giờ, cũng như việc xếp tờ bản đồ này vào nhóm bản đồ miêu tả hình thế và vị trí địa lý của Việt Nam đương thời trong Bộ Atlas của thế giới chứng tỏ, tác giả bộ Atlas này đã thừa nhận Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Vương quốc An Nam lúc đó.
Cũng cần biết rằng, tất cả các bản đồ của Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX trở về trước cũng hoàn toàn thống nhất với bản đồ phương Tây, không hề vẽ lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc vượt quá vĩ độ 18. Vì vậy, Bộ Atlas thế giới của Phi-líp Van-đơ-mai-len nói chung và Partie de la Cochinchine - Một phần Đàng Trong (Một phần phía Nam) nói riêng xét trên mọi khía cạnh có thể được coi là một tài liệu có giá trị khoa học chuẩn mực, là một bằng chứng hùng hồn, đích thực, hiệu quả và có giá trị pháp lý quốc tế cao cho công cuộc đấu tranh và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.







