Biên phòng - "Khi tôi về đây, ấp bưng biền ở miệt Vĩnh Hưng này toàn kênh rạch chằng chịt, đồng bưng lênh láng nước, muỗi kêu như sáo thổi. Đi từ đầu ấp đến cuối ấp bằng ghe mà mai dương cao lút đầu người cào tứa máu..." - Đi giữa con lộ thênh thang xẻ đồng, hai bên lúa ngút trời xanh mơn mởn, Đại úy Hoàng Văn Dũng, Chính trị viên Đồn BP Bến Phố, Long An kể cho tôi nghe ký ức về xứ đồng bưng quê mùa mang cái tên lạ lùng: Bến Phố.
Bến Phố đây rồi thấy phố đâu?
![]() |
Các "thầy giáo quân hàm xanh" và học trò ở làng Việt kiều Hưng Điền. |
Vùng đất nhiễm phèn giáp ranh biên giới Cam-pu-chia của Đồng Tháp Mười hồi đó được dân trong vùng gọi là "đất lâm", mùa khô thì hoang hóa, mùa nước nổi thì trắng đồng mênh mang. "Buồn xốc lên tận óc" - Hoàng Văn Dũng nói. Chị bảo tôi nghĩ gì lúc đó à? Không phải nghĩ, mà ổn định nơi đóng quân ở đồn rồi, tôi liền viết thư về quê bảo người yêu khỏi chờ tôi mà hãy đi lấy chồng đi. Tâm hồn của một chàng trai phố thị là tôi lúc đó, chỉ nghĩ đã quyết tâm gắn bó với vùng biên giới hoang vu này, đành phải hy sinh lợi ích cá nhân, không dám đèo bòng, mơ ước xa xôi nữa. Cái tâm trạng đó, có lẽ chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ truyền khẩu mà giờ đã trở thành câu nói bất hủ cho mảnh đất này: Bến Phố đây rồi, thấy phố đâu?
Cho đến bây giờ, nơi đóng quân của Đồn BP Bến Phố vẫn mang dáng vẻ cũ, khiêm nhường trong bóng những cây xoài, nhãn, mít cổ thụ, bọc giữa ấp bưng biền Ô Mái Dầm của xã Hưng Hiền A, huyện Vĩnh Hưng. Nhìn những cánh đồng lúa cao sản mát mắt, trải rộng hàng chục cây số dọc các con lộ thẳng thớm dọc bờ sông Cái Cỏ vừa làm đường giao thông, vừa làm đường tuần tra biên phòng, không ai còn muốn nhớ đến một thời gian khổ đã ở sau lưng. Nhưng những người lính thì không dễ quên ký ức nặng nghĩa tình.
Đại úy Hoàng Văn Dũng, trưởng thành từ một cán bộ vận động quần chúng, rồi đội trưởng phụ trách công tác này và hiện là Chính trị viên của Đồn BP Bến Phố đã có thâm niên hàng chục năm gắn bó với nghiệp thầy giáo quân hàm xanh. Anh chưa một ngày nào học qua nghiệp vụ sư phạm, nhưng số học sinh của anh ở Hưng Điền A, anh không thể nhớ mặt hết. Người già, người trẻ trong ấp đều gọi anh là thầy giáo, riết rồi cái danh đó gắn luôn với tên anh.
Trước đây, có lần thầy giáo Dũng tới nhà vận động học sinh tới lớp tình thương của biên phòng, các ông bố còn giấu con gái trong buồng, nói thác là nó lên thành phố làm thuê rồi. Mà hồi đó, khắp vùng hoang vu hẻo lánh, biên giới còn nhiễu nhương, không ai dám cho con cái ra khỏi nhà buổi tối. Có ông bố còn bắt thầy giáo biên phòng ký cam kết với gia đình đảm bảo tính mạng và đức hạnh của con gái, rồi mới cho đi học.
Vậy rồi, cũng hết lớp này lớp khác, người thầy quân hàm xanh cần mẫn truyền dạy, học trò lội bưng hàng đêm đi học chữ. Ngồi trong lớp học mái lá phải xỏ hai chân vô bao bố kéo tới tận thắt lưng để chống muỗi. Học xong, thầy trò lại lội kênh chống ghe để về.
Cứ thế, cứ hết mùa này lại tới mùa sau, Đồn BP Bến Phố giao hẳn công tác dạy xóa mù chữ cho đội vận động quần chúng. Xoài, nhãn, mít, rồi rau trồng trong vườn nhà lần lượt được các anh hái hết lượt này lượt khác mang tới nhà học sinh để làm "đầu câu chuyện", mở lời đề nghị gia đình cho con em họ tới lớp học tình thương. Liên tục nhiều năm, Phòng Giáo dục của huyện Vĩnh Hưng khen thưởng và cử cán bộ sư phạm xuống trợ giúp đồn làm công tác xóa mù chữ mà chính họ, bản thân ngành Giáo dục không thể làm được.
"Bến Phố từ khi có các anh"
![]() |
Các "thầy giáo quân hàm xanh" ở Bến Phố trao đổi phương pháp giảng dạy trước khi lên lớp. |
Bến Phố giờ đây, thuần nông với đồng ruộng thẳng cánh cò bay với kỹ thuật canh tác lúa nước trên đất nhiễm phèn với công nghệ kinh qua hàng chục năm thực tiễn khai phá Đồng Tháp Mười. Đời sống ổn canh với cây lúa, mà sự nghiệp giáo dục thì mỗi năm tới lại thêm một thách thức mới. Tôi hỏi Đại úy Hoàng Văn Dũng: Thế còn câu chuyện anh về Bến Phố, viết thư khuyên người yêu đi lấy chồng thì sao?
Hoàng Văn Dũng cười: Đó là cả một huyền thoại của riêng tôi. Tôi bây giờ có gia đình ở xã Hưng Điền A, với vợ là cô giáo hiện làm việc ở ngôi trường ngay trong xã này. Cô ấy chính là người mà tôi viết thư khuyên đi lấy chồng hồi đó. Thùy Linh - vợ tôi là con gái Hà Đông, cũng xuất thân phố thị theo học nghề danh giá thời ấy là nghề sư phạm. Nhận được thư tôi, cô ấy tức tốc bỏ học, theo vết chân của tôi, vào tận đất Vĩnh Hưng này, quyết tìm tôi bằng được. Sau đó, tôi khuyên nhủ cô ấy trở ra Bắc, theo học nốt và tốt nghiệp sư phạm rồi chuyển hẳn vào đây xây dựng gia đình, ở lại lập nghiệp nơi vùng đất hoang vu xa xôi này.
Tôi cứ nghĩ mãi về câu chuyện như bước ra từ trong tiểu thuyết của Đại úy Hoàng Văn Dũng. Chính những người như anh đã viết lên hình ảnh thầy giáo quân hàm xanh thân thương in trong tâm trí bao thế hệ từ những riêng chung rất đời thường như thế. Lưu lại ở Đồn BP Bến Phố vài ngày, chúng tôi lần lượt theo chân các anh, lại đi từng xóm ấp để vận động mở lớp học tình thương. Có khác hơn là đối tượng học lại không đơn thuần là trẻ em nghèo trong xóm ấp nữa, mà là con em của các hộ gia đình Việt kiều hồi hương mới từ Cam-pu-chia trở về nước.
Công việc còn khó hơn gấp bội phần vì lũ trẻ sinh ra trên đất Cam-pu-chia, nói tiếng Việt không sõi, giao tiếp còn khó khăn. Không thể chờ đến khi có thể nhập tịch, nhập khẩu, có giấy khai sinh để đi học, những đứa trẻ này cần biết chữ và trách nhiệm lại thuộc về các thầy giáo quân hàm xanh - trách nhiệm của trái tim.
Khi chúng tôi rời những ấp Việt kiều nghèo bên sông Cái Cỏ, Đại úy Hoàng Văn Dũng, Binh nhất Đinh Ngọc Chữ, Đặng Văn Nhất vẫn còn cố nán lại, dặn dò cha mẹ những đứa nhỏ sẽ theo học lớp tình thương của các anh phải chú ý đưa đón lũ nhỏ qua kênh qua rạch, không được để chúng lội qua bưng đến lớp. Anh khẽ nhắc những đứa trẻ không được tắm sông, đày nắng, dặn dò như cách cha chăm con.
Dường như không còn ở các anh hình ảnh của những chàng trai tân binh biên phòng ở phố ngày nào, mà đã trở thành những những chủ nhân xứ đồng bưng tháo vát, giỏi việc, như cách mà người ta hay nói về công việc dạy chữ của các anh: Khai tâm sáng để tâm mình sáng.
.gif)
.gif)







