Biên phòng - Muôn đời nay, cõi bờ cương vực vẫn là giá trị thiêng liêng nhất của đất nước. Với Tổ quốc ta, một dải non sông cong cong hình chữ S trải dài từ chóp nón Lũng Cú đến ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm Cà Mau ôm lấy một vùng biển đảo mênh mang luôn là nơi đứng đầu sóng ngọn gió.
Các thế lực ngoại bang tham lam đã bao phen hùng hổ đặt gót giày xâm lược lên vùng biển, dải đất linh thiêng này, nhưng rốt cuộc đều bị dân tộc ta đánh bại. Bởi thế, mới có ngân rung Trống đồng thời Hùng Vương, âm vang Nam quốc sơn hà Nam đế cư của Lý Thường Kiệt, hào sảng Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, trầm hùng Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh... Đấy là những bằng chứng lịch sử hùng hồn tỏa sáng trong suốt thăm thẳm chiều dài dựng nước và giữ nước đầm đìa máu - mồ hôi - nước mắt của bao thế hệ con dân Việt.
Với tôi, tình yêu được đẩy tới đỉnh cao nhất, đạt đến chiều sâu nhất hình như chỉ có khi đặt chân lên biên giới hải đảo. Một tình cảm tha thiết lưu truyền từ ngàn xưa lại, nguyên vẹn và tinh khôi như thuở ban đầu. Và trong muôn vàn biến thiên của thời cuộc, giữa những chen lấn hỗn tạp của thế giới hôm nay thì tình yêu Tổ quốc, bắt đầu từ lòng yêu biên cương hải đảo càng cô đúc lại rõ ràng, rắn rỏi, góc cạnh hơn.
Một tình yêu rất cụ thể trong tôi; từ ngọn cỏ cành cây, góc núi bờ ruộng, thềm đá hạt cát, con sóng dải mây đều thắm thiết lung linh hồn Việt. Để trong tôi chưa bao giờ nguôi quên, chưa bao giờ lặng tiếng, chưa bao giờ mờ phai những địa danh biên giới như Lũng Cú, Tả Kha, Bạch Đích, Làng Mô, Cù Bai, Cổng Trời, Tà Rùng, Lao Bảo, Đất Mũi Cà Mau... và những đảo nổi, đảo chìm như Trường Sa lớn, Đá Đông, Đá Tây, Đá Lát, Thuyền Chài, Phan Vinh, Tiên Nữ, An Bang... nơi mình đã đặt chân đến. Một lần đến để nhớ thương mang theo đăm đắm trọn đời. Để còn lại trong tôi những thao thức cheo leo, lồng lộng biên cương hải đảo không dễ gì nói hết.
Vẫn còn trong tôi nỗi nhớ mù sương cực Bắc thấp thoáng bóng cây sa mộc chênh chênh trong gió rét. Những bờ lau trắng giao tranh với gió bấc, mềm mại mà dẻo dai muôn thuở, muôn đời. Tôi nhớ lặng im đến rơi nước mắt khi ngắm nhìn những nụ hoa đào nở sớm trước sân đồn Bạch Đích, cheo leo lưng chừng ngọn núi Muồng sương phủ tê tê.
Những bông hoa đào khoe sắc khiêm nhường giữa Tết Trung thu khi những người lính biên phòng nao nao nhớ tiếng trống tùng dinh nơi chốn quê xa. Quanh năm suốt tháng xa nhà, xa cha mẹ, vợ con để trụ bám nơi heo hút biên thùy. Dấu chân tuần tra nhòe trong sương gió nắng mưa và lắm khi nó bị khuất lấp sau muôn vàn hỗn tạp bon chen bề bộn của cuộc sống đời thường. Vẫn cười như nứa vỡ. Vẫn nén lòng thương nhớ nôn nao để gọi điện về động viên vợ con nơi xa. Vẫn là cán bộ của dân bản. Vẫn là kỹ thuật viên hướng dẫn bà con cấy lúa, trồng xoài. Vẫn là thầy giáo quân hàm xanh dạy các em học đọc, học viết... Những người lính biên phòng như thế, chỉ một lần gặp thôi cũng đã để cho ta yêu mến trân trọng. Họ chính là một phần của biên giới, hòa trong dân, lẫn trong dân, sống cuộc sống của từng cột mốc chủ quyền đất nước.
Cũng vậy, tôi vẫn thường nhớ về đảo xa, nơi màu áo lính thấp thoáng bên cây phong ba, dưới những cây dừa tướp lá. Cột mốc chủ quyền trên đảo là một thực thể linh thiêng gắn liền với người lính biển đảo. Dù họ mang quân phục khác nhau nhưng tinh thần khí phách của những người lính ấy vẫn là khí phách tinh thần của người giữ bờ cõi. Mỗi người lính là một cột mốc thiêng, là một cây phong ba và cũng có thể là một mảnh trăng quê trên đảo. Xa đất liền hàng trăm hải lý, cũng nôn nao nỗi nhớ quê hương gia đình, cũng bâng khuâng khi ngắm những vầng mây đỏ rực phía Tây khi hoàng hôn buông.
Ai chẳng muốn có bữa cơm quây quần bên người thân cơ chứ và được đi bên người yêu trong đêm thứ bảy chẳng phải là niềm mong ước của riêng ai? Rồi khi Tết đến Xuân về, chiều ba mươi, phút giao thừa ai chẳng thấy lòng mình chênh chênh trông trống. Tôi nhớ phút hân hoan trìu mến của lính đảo dành cho người đất liền. Bông hoa muống trắng muốt tặng các cô văn công hát múa trên đảo giữa trưa nắng chang chang. Những chàng trai tuổi mới mười tám mười chín mà đầu đã lấm tấm bạc - những người lính mặt trẻ tóc già của tôi. Cái đêm trăng rằm vằng vặc sáng giữa biển trời bao la, lính đảo với văn công hát cùng nhau mê say như chưa bao giờ được hát. Không phải liền chị liền anh của xứ Kinh Bắc huê tình vẫn cứ níu náu dùng dằng muôn nỗi. Đến canh khuya rồi, mà vẫn chưa dám cất lời Người ở... đừng về...
Văn hóa Việt theo con người Việt đến biên cương hải đảo. Đó cũng là những cột mốc vô hình xác lập chủ quyền đất nước. Nó vô hình nhưng vô cùng vững chãi. Ngôn ngữ Việt. Dân ca Việt. Ứng xử Việt. Đình chùa Việt. Hiện hiển trên đảo xa, trên biên cương như là sự nối dài, sự khẳng định cho tinh thần Nam quốc sơn hà Nam đế cư... Không có gì là lên gân lên cốt cả; tinh thần ấy có trong mỗi người dân Việt, mỗi người lính Việt rất tự nhiên bởi nó được truyền lưu lại từ hàng nghìn năm nay. Tinh thần ấy được hun đúc từ lòng yêu nước vững bền, nối dài bền chặt từ tổ tiên ông bà đến con cháu chút chít mai sau.
Biên cương hải đảo đã là một phần cuộc sống của tôi. Bốn mùa, nỗi nhớ ấy đằm thắm tươi nguyên trong tôi. Tôi mang nỗi nhớ ấy như mang một phần Tổ quốc trong tim.






