Biên phòng - Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và tiến bộ đáng kể trong cải cách hệ thống pháp luật liên quan đến bình đẳng giới và bảo vệ phụ nữ trước bạo lực gia đình (BLGĐ). Thế nhưng, phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều trở ngại trong việc tiếp cận công lý. Nguyên nhân của tình trạng này là khung pháp luật về trợ giúp pháp lý (TGPL) và tiếp cận pháp lý cho phụ nữ vẫn còn những "lỗ hổng".
![]() |
| Phụ nữ dân tộc thiểu số thường bị cư xử thiếu bình đẳng trong gia đình. (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa). |
Theo số liệu điều tra mới nhất về BLGĐ, ở Việt Nam, cứ 3 phụ nữ thì có 1 người từng bị đánh, bị cưỡng bức về tình dục hay từng phải chịu các hình thức lạm dụng khác. Trong các hình thức bạo lực thì bạo lực tinh thần là phổ biến nhất. Tỉ lệ phụ nữ chịu bạo lực tinh thần lên tới 53,6%, sau đó là bạo lực thể xác 31,5%. Bạo lực tinh thần, thể xác và tình dục ở nông thôn phổ biến hơn so với ở thành thị.
Điều đáng quan tâm là, phụ nữ thường phải chịu đựng đồng thời nhiều loại bạo lực và việc tiếp cận công lý của họ rất hạn chế, đặc biệt là phụ nữ vùng dân tộc thiểu số. Từ năm 2007 đến nay, mỗi năm chỉ có khoảng 40.000-50.000 phụ nữ được TGPL.
Dù pháp luật ở nước ta quy định, người được TGPL không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí, thù lao nào, nhưng vẫn có đến 77% các trường hợp phụ nữ bị bạo hành không trình báo tới các cơ quan chức năng liên quan. Nguyên nhân của tình trạng này là do nhiều phụ nữ là nạn nhân của BLGĐ vẫn chưa biết được về quyền được TGPL miễn phí hoặc e ngại khi tiếp cận với trợ giúp viên pháp lý. Bên cạnh đó, việc người phụ nữ không có quyền tiếp cận thu nhập trong gia đình một cách bình đẳng đang ảnh hưởng và cản trở đến quyền tiếp cận TGPL để đạt được công lý của phụ nữ.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh, Cục trưởng Cục TGPL, Bộ Tư pháp chỉ ra rằng, hoạt động TGPL cho phụ nữ hiện nay còn gặp phải nhiều bất cập, khó khăn. "Không phải tất cả phụ nữ đều được TGPL. Nhiều phụ nữ vẫn chưa biết được về quyền được TGPL hoặc còn e ngại khi tiếp cận với TGPL. Phụ nữ là nạn nhân bị xâm hại tình dục, nạn nhân BLGĐ… thường cam chịu không dám lên tiếng, do vậy, rất khó khăn cho những người trực tiếp thực hiện TGPL".
Hơn nữa, cơ sở vật chất tại các Trung tâm TGPL và các tổ chức tham gia thực hiện TGPL tại các trung tâm này nhìn chung chưa được đào tạo về kỹ năng làm việc với nạn nhân bạo lực giới... Trung tâm TGPL chưa đầy đủ, chưa bố trí phòng tiếp phụ nữ riêng nên nhiều phụ nữ không dám đến vì e sợ nhiều người biết chuyện gia đình.
Trong nhiều nghiên cứu khác nhau ở Việt Nam, các yếu tố văn hóa truyền thống bao gồm quan niệm, giá trị và chuẩn mực, phong tục, tập quán xã hội đã được phân tích như là nguyên nhân dẫn đến BLGĐ. Đồng thời, những chuẩn mực đó tác động tới cách mà phụ nữ phản ứng với BLGĐ. "Nhận thức của xã hội, truyền thống văn hóa ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận pháp lý cho phụ nữ, do vậy, nhiều phụ nữ bị bạo hành thuộc đối tượng TGPL cũng chưa sử dụng dịch vụ TGPL.
Hiện nay, Nhà nước cũng chưa xây dựng được nhiều nhà tạm lánh để bảo đảm an toàn cho phụ nữ trước BLGĐ, hoặc nạn nhân bị mua bán. Thực tế, có một số trường hợp phụ nữ đến xin được TGPL, khi người chồng biết được đã đánh vợ tàn bạo hơn" - bà Minh cho biết.
Những "lỗ hổng" cần lấp đầy
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh, bạo lực giới ở Việt Nam là vấn đề xã hội nhức nhối, song thực tế, Việt Nam chưa có cơ chế hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bạo hành, cả về mặt pháp luật và xã hội. Trong Luật TGPL hiện hành, phụ nữ bị BLGĐ chưa được quy định là đối tượng được TGPL, trong khi đó, phụ nữ bị bạo hành ở Việt Nam là một vấn đề rất nhạy cảm. Hầu như phần lớn phụ nữ bị bạo hành không muốn cho người ngoài biết mình bị chồng đánh đập.
Hiện, pháp luật quy định, người được TGPL chỉ bao gồm: Người nghèo (QĐ 09/2011/ chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2011-2015); người có công với cách mạng; người già cô đơn không nơi nương tựa; người khuyết tật; trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn; người được TGPL theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Một rào cản khác là, hiện chưa quy định mô hình TGPL cho phụ nữ. Phụ nữ là nạn nhân BLGĐ lúng túng khi cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu chứng minh thương tật trên 11% để thực hiện quyền yêu cầu khởi tố vụ án, trong khi cơ quan tiến hành tố tụng chỉ trưng cầu giám định sau khi khởi tố. Bên cạnh đó, có một thực tế là, các công cụ pháp lý và người thực thi thường không bảo vệ được nạn nhân, các biện pháp xử lý người gây BLGĐ không đầy đủ và sự trừng phát chưa đủ hiệu quả răn đe người gây ra bạo lực.
Trước thực trạng này, Tiến sĩ Đào Lệ Thu, Đại học Luật Hà Nội đề xuất, cần phải mở rộng đối tượng được TGPL bao gồm những hộ cận nghèo, phụ nữ là nạn nhân của bạo lực giới. Trường hợp phụ nữ là nạn nhân của bạo lực giới không được hưởng hoặc hưởng không đáng kể thu nhập của gia đình thì dựa trên thu nhập của cá nhân họ để xác định diện hưởng TGPL.
Bên cạnh đó, cần luật hóa trách nhiệm cung cấp thông tin về dịch vụ TGPL sẵn có cho người bị hại và người tham gia tố tụng khác và xã hội hóa hoạt động TGPL. Đồng thời, tổ chức tập huấn, đào tạo trợ giúp viên pháp lý về nhạy cảm giới và trách nhiệm giới...
Những khuyến nghị khác được đưa ra gồm: Sửa đổi quy định về hình thức, lĩnh vực TGPL; về trình tự, thủ tục yêu cầu và thực hiện TGPL; công bố danh sách tổ chức thực hiện TGPL để người dân tiếp cận và lựa chọn; hệ thống TGPL phải dễ tiếp cận, bền vững và đáp ứng nhu cầu của phụ nữ, các dịch vụ được cung cấp kịp thời, liên tục và hiệu quả trong mọi giai đoạn của hệ thống pháp lý. Cùng với đó, cần ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thụ lý, kiểm tra yêu cầu TGPL và thực hiện TGPL. Mặt khác, nên nâng cao chất lượng TGPL tương đương với dịch vụ pháp lý trả tiền.








