Biên phòng - Năm 2010, 19 hộ đồng bào dân tộc Mày sống trong khu vực núi bị sạt lở được chính quyền địa phương và Đồn BP Ra Mai (BĐBP Quảng Bình) vận động về định cư tại bản Dộ, xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Về nơi ở mới, người dân được cấp đất, cấp nhà miễn phí, nỗi ám ảnh về cảnh "núi lở đá lăn" đã không còn. Song về lâu dài, để người dân yên tâm bám bản thì vẫn còn đó nhiều trăn trở.
![]() |
Bản Dộ hiện nay đã có diện mạo khang trang nhưng người dân vẫn chưa thể "lạc nghiệp". |
Từ trung tâm xã Trọng Hóa, vào được bản Dộ chỉ duy nhất có một con đường độc đạo cắt ở chân cầu La Trọng trên trục đường 12A. Chặng đường dài chưa đầy 30km nhưng phải mất gần 2 giờ đi xe máy mới đến được bản. Bản Dộ có 19 hộ, 109 khẩu, được thành lập từ năm 2010. Trước đây, người dân bản Dộ sống ở hai bản Tà Vờng và Tà Doong, cách nơi ở hiện tại khoảng 2km đường chim bay. Bản "tọa lạc" dưới chân một quả đồi nên hễ mưa là sạt lở. Trận lụt cuối năm 2010, núi lở đã xóa xổ hoàn toàn các nhà trong 2 bản Tà Vờng, Tà Doong. 19 hộ dân lâm vào cảnh đói khát, hoảng loạn. Nhiều gia đình rồng rắn dắt nhau đi tìm nơi ở mới. Họ lập lán trại sống tạm bợ, rải rác ven các triền núi cao.
Trước tình hình đó, để giúp bà con yên tâm ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất, Đồn BP Ra Mai và chính quyền địa phương đã lập dự án đầu tư hỗ trợ theo Chương trình "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo", nguồn vốn do Công ty Cảng dịch vụ dầu khí (thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) và UBND huyện Minh Hóa tài trợ, năm 2011, bản Dộ ra đời với 22 ngôi nhà mới.
Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà còn nguyên màu gỗ mới, già làng Hồ Xếp, 87 tuổi xúc động nói: "Quả là những ngôi nhà đáng mơ ước. Cảm ơn Đảng, ơn các chú Bộ đội Biên phòng và các nhà hảo tâm nhiều lắm! Từ ngày về đây, bà con không còn phải lo sợ vì sạt lở nữa, bản làng đã bình yên, con em được đến trường học chữ...".
Người dân bản Dộ đã an cư, nhưng đang phải đối mặt với những thách thức do thiếu đất sản xuất, thiếu nước sạch và không có điện, không có chợ và trạm y tế khiến sinh hoạt của bà con bản Dộ hiện đang gặp rất nhiều khó khăn.
Ông Hồ Khiêm, nguyên Trưởng bản Tà Vờng chia sẻ: "Trước đây, bản cũ nằm sâu trong rừng, tuy heo hút nhưng dân ít, đồi núi rộng, bà con thoải mái canh tác. Sau mỗi vụ mùa lại có "của ăn của để" cho năm sau. Nay về nơi ở mới, mỗi năm chỉ trồng được 1 vụ lúa rẫy thôi, thuận trời thì có thêm được ít sắn, ngô. Vì thế, đi làm 4 ngày may mắn chỉ đủ ăn 2 ngày. Sức lao động thì thừa nhưng không có đất mà canh tác".
Thực tế, nước sinh hoạt tuy đã về tận bản nhờ hệ thống ống dẫn nước lấy từ thượng nguồn một con suối gần đó, nhưng vào giờ cao điểm vẫn không đủ để cung cấp cho 19 hộ dân nơi đây. Những hôm đường ống bị vỡ, dân bản Dộ phải đi bộ gần 2km lên núi gùi nước về. Để có điện thắp sáng, người dân phải trông chờ vào các "máy phát điện pin tiểu" hoặc hệ thống công trình "thủy điện mini" bằng cách ngăn suối, tạo nguồn điện từ năng lượng nước do cán bộ, chiến sĩ Đồn BP Ra Mai sáng chế. Nói về những khó khăn khi trạm y tế ở xa, chị Hồ Thị Păng, 32 tuổi than thở: "Dân bản thì nghèo, cả bản không có lấy một chiếc xe máy, mỗi khi ốm đau, chúng tôi phải cõng bộ người bệnh hoặc nhờ cán bộ biên phòng đến đón về trạm quân dân y của Đồn BP Ra Mai. Đây là địa chỉ y tế gần bản nhất nhưng cũng phải cách 12km đường rừng. Những ca ốm nặng hoặc sinh đẻ thì phải đến bệnh viện thị trấn Quy Đạt, cách 70km. Khổ không nói hết".
Được sống trong những ngôi nhà gỗ khang trang, chắc chắn là niềm vui, niềm tự hào của đồng bào dân tộc Mày ở bản Dộ. Tuy nhiên, đó mới chỉ là giải pháp "an cư" trước mắt, còn để bà con yên tâm "lạc nghiệp", bám bản lâu dài thì vẫn đang còn là chặng đường dài phía trước. Mong mỏi được Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng quỹ đất sản xuất, hỗ trợ nguồn vốn để phát triển chăn nuôi... hiện đang là tâm tư chung của người dân bản Dộ. Nhưng để ước mơ đó trở thành hiện thực thì đồng bào Mày nơi đây đang rất cần sự quan tâm của các cấp, các ngành tỉnh Quảng Bình và sự quan tâm, hỗ trợ của cộng đồng.








