Biên phòng - "Dạ cổ hoài lang" bản nhạc lòng của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Sáu Lầu), nay đã trở thành một di sản văn hóa phi vật thể của Bạc Liêu. Bảo tồn và phát huy giá trị của bản "Dạ cổ hoài lang", cũng là cách để khẳng định Bạc Liêu là một trong những "chiếc nôi" đã hình thành và phát triển đờn ca tài tử (ĐCTT) Nam Bộ nói riêng và nghệ thuật cải lương nói chung.
| |
| Cây đàn kìm - biểu tượng nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ được xây dựng tại Quảng trường Hùng Vương, TP Bạc Liêu. Ảnh: Phương Nghi |
ĐCTT Nam bộ được UNESCO vinh danh là "Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại". Bây giờ, mỗi khi nhắc đến Bạc Liêu, người ta sẽ nhớ đến một miền đất luôn "đãi" khách bằng ĐCTT và khi nghe ĐCTT ở Bạc Liêu, du khách mới thật sự thấm thía được cái chất tài tử đúng nghĩa. Bởi, Bạc Liêu là một trong những "chiếc nôi" khai sinh và góp công vào con đường phát triển nghệ thuật ĐCTT, đồng thời cũng là địa phương quan tâm nhiều đến việc kiến tạo các công trình tôn vinh nét văn hóa này.
Quê hương "Dạ cổ hoài lang" là miệt biển Bạc Liêu đậm màu tài tử. Gần một trăm năm qua, "Dạ cổ hoài lang" của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã thay đổi theo thăng trầm của lịch sử, cho phù hợp với xu hướng cải lương hiện đại, nhưng cái nguồn cội tinh túy của 20 câu trong "Dạ cổ hoài lang" vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
"Từ là từ phu tướng. Bảo kiếm sắc phong lên đàng. Vào ra luống trông tin chàng. Năm canh mơ màng. Em luống trông tin chàng. Ôi gan vàng quặn đau. Đường dù xa ong bướm. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang. Đêm luống trông tin chàng. Ngày mỏi mòn như đá Vọng phu... Vọng phu... Vọng phu. Luống trông tin chàng. Sao nỡ phũ phàng... Chàng là chàng có hay? Đêm thiếp nằm luống những sầu tây. Bao thuở đó đây sum vầy. Duyên sắc cầm lạt phai. Là nguyện cho chàng. Hai chữ an bình an. Mau trở lại gia đàng. Cho én nhạn hiệp đôi".
Từ câu chuyện tình yêu và nỗi khổ của mình, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã nâng lên thành tâm trạng chung của dân tộc thời thực dân phong kiến để mọi người cùng chia sẻ. Trong thời gian dài phu thê cam chịu cảnh "đêm đông gối chiếc cô phòng", tâm tư nặng trĩu u buồn, ông Sáu Lầu đêm đêm mượn tiếng đờn kìm làm bạn tâm tình, nắn nót đôi câu để bớt cơn phiền muộn.
Ông thừa hiểu, người bạn đời cũng đau xót như ông. Ông liên tưởng đến tình cảnh vợ ông chẳng khác gì thiếu phụ trông chồng như hòn Vọng Phu. Đêm khuya thanh vắng, ôm đờn với niềm tâm sự sâu lắng, ông nhớ đến điệu Nam ai với bài Tô Huệ Chức cẩm hồi văn và dựa theo tứ đó, bản "Dạ cổ hoài lang" ra đời.
Ông Sáu Lầu sáng tác "Dạ cổ hoài lang" khoảng cuối năm 1918, đến năm 1919 thì được phổ biến trong giới tài tử Bạc Liêu. Sau đó, "Dạ cổ hoài lang" không dừng lại ở nguyên dạng như các bản nhạc cổ khác mà dần dần biến đổi hình thức, phát triển thành bản vọng cổ, làm thay đổi một phần lớn bộ mặt cải lương Nam Bộ. Đây cũng là điều tối ưu của "Dạ cổ hoài lang", có lẽ, do tiếng nhạc du dương và lời ca bình dị rất hợp với người Nam Bộ; hình ảnh người chinh phụ ở đây đã hòa nhập thực sự vào cuộc đời thường, phản ánh đúng tâm trạng đau buồn của người phụ nữ khi xa chồng.
Có lẽ chính cái tính đời thường đó đã làm rung cảm người nghe... Ngoài giá trị âm nhạc, "Dạ cổ hoài lang" đã góp được tiếng nói của mình vào phong trào yêu nước, gieo vào lòng người nỗi niềm, tâm tư thương nhớ của người vợ với người chồng ra đi cứu nước. Từ tâm sự riêng tư của một đôi vợ chồng, "Dạ cổ hoài lang" đã trở thành tiếng lòng chung của hàng triệu người dân đang phải sống cơ cực lầm than dưới ách đô hộ của địa chủ, cường hào, phong kiến và bè lũ thực dân Pháp.
Từ khi "Dạ cổ hoài lang" ra đời đã nhanh chóng đi sâu vào lòng người mộ điệu, trở thành bài ca chính thống, "bài ca vua" trên sân khấu cải lương Nam bộ. Qua mỗi giai đoạn phát triển, bài ca càng trở nên hay hơn và chuyển dần thành nhiều nhịp. Năm 1924, tăng lên 4 nhịp; từ năm 1934 - 1944, tăng lên 8 nhịp; từ năm 1945 - 1954, tăng lên 16 nhịp; từ năm 1955 - 1964, tăng lên 32 nhịp và từ năm 1965 đến nay tăng lên 64 nhịp. Và cứ mỗi lần phát triển, "Dạ cổ hoài lang" biến đổi hình thức, làm thay đổi một phần bộ mặt cải lương.
Rõ nét nhất là từ thập niên 1960, soạn giả Viễn Châu đã tạo nên mối lương duyên kỳ lạ, kết hợp tân nhạc vào vọng cổ, cho ra đời bản tân cổ giao duyên, thu hút được khán thính giả tân và cổ nhạc. Điều này chỉ có ở vọng cổ, bởi lẽ, tiếng nhạc du dương và lời ca bình dị hợp với tấm lòng người Nam Bộ. Lúc buồn, vọng cổ giúp giãi bày tâm sự, vơi đi nỗi buồn tủi, lúc vui tươi, vọng cổ tạo nên không khí phấn khởi, hân hoan.
Cũng chính bản vọng cổ đã góp phần mang lại ánh hào quang cho nhiều lớp nghệ sĩ, danh ca, danh cầm, soạn giả cải lương..., góp phần khơi nguồn dòng chảy cho lịch sử âm nhạc nước nhà. Cố GS - TS Trần Văn Khê khẳng định: "Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như "Dạ cổ hoài lang" biến thành vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể, sanh từ đầu thế kỷ, lớn lên sống mạnh, biến hóa thiên hình vạn trạng và sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt khắp năm châu bốn bể".
Thời gian qua, Bạc Liêu đã tập trung nhiều sức lực để nâng tầm Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu như một động thái "chọn mặt gửi vàng" trong tiến trình "đi lên từ văn hóa". Dự án đầu tư, mở rộng khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu một lần nữa khẳng định vị thế của bản "Dạ cổ hoài lang" tôn vinh tài hoa của nhạc sĩ Cao Văn Lầu (công trình này được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia vào tháng 4-2014).
Công trình có nhiều hạng mục được xây mới như: Nhà bảo vệ; nhà trưng bày về các tác giả biến tấu các nhịp từ bản "Dạ cổ hoài lang" với tên gọi "Nhà trưng bày ĐCTT cải lương"; nhà trưng bày các tranh, ảnh, hiện vật về nhạc sĩ Cao Văn Lầu và sự phát triển của "bài ca vua"; sân khấu biểu diễn; biểu tượng đờn kìm; tượng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu; vườn tượng các loại nhạc cụ dân tộc; chòi nghỉ chân cho du khách...
Đặc biệt, trong lòng khuôn viên của công trình, tại biểu tượng ống tre, lối vào chính phía trên của nhà hành chính là cầu thang lên khu vực có biểu tượng đờn kìm, là nơi hành lễ tưởng niệm, nơi đặt lư hương. Điểm nổi bật tại đây là các bậc thang được bố trí theo các số bậc: 2, 4, 8, 16, 32 và 64 - tượng trưng cho cung bậc, nhịp phách của ca cổ cải lương, tương ứng với từng nghệ nhân sáng tác.
Đó là: nhịp 2 của Cao Văn Lầu, nhịp 4 của Trịnh Thiên Tư, nhịp 8 của Lư Hòa Nghĩa, nhịp 16 của Mộng Vân, nhịp 32 của Trần Tấn Hưng và nhịp 64 của Lý Khi, cùng với 20 bài tổ, 6 Bắc, 7 Hạ, 3 Nam, 4 Oán do ông Lê Tài Khí (hay còn gọi là Nhạc Khị) phát triển.






