Biên phòng - Khi nói về quãng đời quân ngũ của mình, Thiếu tá Nguyễn Bá Tánh, cựu chiến binh Z112, Cục Quản lý xe máy, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng nói: "Ở đâu có xe là có lính thợ chúng tôi". Ông kể, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, những người lính thợ có mặt ở khắp các chiến trường làm nhiệm vụ sửa chữa phương tiện xe máy, tăng pháo, đảm bảo phục vụ tốt các trận đánh. Dù đã gần 80 tuổi, nhưng những câu chuyện về chiến trường ông kể, vẫn còn sôi nổi đầy sức sống như tinh thần của chàng thanh niên trẻ yêu nước ngày nào. Câu chuyện của ông giúp chúng tôi hiểu thêm về những chiến công thầm lặng, tinh thần anh dũng hy sinh của những người lính thợ.
| |
| Ông Tánh giới thiệu những phần thưởng cao quý được Nhà nước trao tặng. |
Gia đình ông Tánh vốn định cư ở Thái Lan. Tháng 8-1960, theo lời kêu gọi của Bác Hồ, gia đình ông hồi hương về nước. Lúc đó ông tròn 15 tuổi. Sau khi học hết phổ thông, năm 1964, chàng trai trẻ này xin vào làm việc tại Nhà máy sửa chữa ô tô 19-5, Tổng cục Lâm nghiệp. Sau đó, ông viết đơn tình nguyện nhập ngũ và vào Đoàn đốc chiến chiến trường, tham gia chiến dịch Khe Sanh năm 1968. Nhớ lại những năm tháng chiến trường khốc liệt, ông Tánh không bao giờ quên những kỷ niệm hào hùng cùng đồng đội chiến đấu tại chiến trường Khe Sanh.
Ông nhớ lại: "Đơn vị tôi hành quân đến cao điểm Văng Mu thì bị địch thả pháo sáng, bắn phá dữ dội. 2 xe đi đầu gồm có xe chỉ huy và xe của tôi lao đi dưới làn bom đạn tới địa điểm an toàn. 2 xe đi sau chở trang thiết bị thiết yếu phục vụ chiến trường gồm phụ tùng ô tô, tăng, xích, pháo và súng bộ binh bị trúng đạn, hỏng, không đi thoát được. Với quyết tâm không để mất hàng, chúng tôi quyết định quay lại cứu xe. Tôi đề nghị với chỉ huy để mình tôi và một lái xe quay lại cao điểm Văng Mu. Khó khăn chồng chất để cứu hàng, cứu xe tại thời điểm ấy, vì ban ngày địch cho máy bay quần thảo liên tục, dội bom, bắn pháo cả ngày.
Tối đến, chúng bắn pháo, thấy điểm nào khả nghi, chúng liền bắn pháo sáng hoặc dội bom tới tấp. Thời gian không còn nhiều, nếu chậm trễ thì cơ hội tiến quân cho kịp với kế hoạch sẽ phá sản. Chúng tôi thay phiên nhau sửa chữa xe, khi địch dội bom thì chạy vào hầm. Vừa sửa xe, vừa canh gác quan sát máy bay của địch, cuối cùng chúng tôi cũng sửa xong. Tới 4 giờ chiều hôm sau, máy bay của địch mở rộng vòng bay kiểm soát, nhân cơ hội này, tôi lệnh cho anh em lên xe di chuyển thật nhanh. Như thế, chúng tôi vượt qua cao điểm Văng Mu mà không để mất xe, mất hàng".
Kể tới đây, người cựu binh già dẫn chúng tôi lên căn phòng trưng bày những kỷ vật liên quan tới cuộc đời quân ngũ của ông. Những tấm huy chương, huân chương, bằng khen được ông treo kín tường. Ông giới thiệu từng tấm huy chương, được trao tặng khi nào, thành tích gì... Ông tự hào bảo đây chính là Phòng truyền thống của gia đình, là tài sản vô giá của ông lúc tuổi già. Tại căn phòng đầy ắp kỷ niệm này, ông tiếp tục kể chuyện về lần thứ 2 đi B.
"Bước vào chiến dịch mùa Xuân năm 1975, không khí sôi động, náo nức lòng người, thanh niên ra trận như đi trẩy hội. Ai cũng muốn lập công, ở đâu có phương tiện kỹ thuật, xe cộ là ở đó có thợ sửa chữa đảm bảo kỹ thuật. Thời điểm đó, tôi là cán bộ Đại đội sửa chữa ô tô, tăng thiết giáp, Tiểu đoàn 135, Cục Hậu cần - Kỹ thuật, Quân đoàn 2. Những người lính thợ chúng tôi ngày đêm sửa chữa xe, làm việc không biết mệt mỏi, luôn bám sát các Sư đoàn 304, 325, 324, Tiểu đoàn vận tải 32 để kịp phục vụ cho chiến trường".
Trước cuộc tiến công thần tốc của Quân đoàn 2 và các lực lượng vũ trang ta trên chiến trường, quân địch không còn đủ sức để giữ Thừa Thiên Huế. Địch tháo chạy, quân ta truy kích địch ra tận cửa biển Thuận An và giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên Huế vào ngày 26-3-1975. Trong khi đi phục vụ các chiến trường, bắt tù hàng binh, ông Tánh tranh thủ học cách sử dụng các phương tiện vũ khí mới của địch rồi phổ biến, hướng dẫn cho anh em trong đơn vị. Nhờ tinh thần ham học hỏi mà ông đã xử lý được không ít sự cố.
Ông còn nhớ: "Sáng 25-3-1975, quân ta chiếm xong Phú Bài và quận lỵ Hương Thủy. Trạm sửa chữa của tôi đã vào ấp Năm thu hồi được một xe bọc thép M48 và 6 xe M113, 2 xe ô tô, 4 xe GMC của địch để vận chuyển phụ tùng, vật tư, trang thiết bị sửa chữa ô tô ở kho của địch về địa điểm tập kết của ta. Vì cầu An Lỗ bị địch phá sập, tôi trực tiếp lái xe bọc thép và chỉ huy anh em cho xe bọc thép M113 bánh xích chở hàng chạy trên đường xe lửa. Trên đường đi, tôi cùng các chiến sĩ lái xe và anh em thợ tích cực sửa xe và thu hồi xe địch, tìm kiếm những phụ tùng thay thế để tăng cường đầu xe cho các đơn vị tiến đánh Sài Gòn".
Ngay sau khi tiếp quản xong số trang bị kỹ thuật, phương tiện tại đây, đội kỹ thuật chúng tôi tiếp tục lên đường tiến vào Đà Nẵng. Trên đường di chuyển, chúng tôi đã sửa chữa được rất nhiều phương tiện của địch bỏ lại để tăng cường lực lượng cho các cánh quân tiếp tục tiến về Sài Gòn.
Sáng 7-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra mệnh lệnh: "Thần tốc. Thần tốc hơn nữa! Táo bạo, táo bạo hơn nữa! Tranh thủ từng giờ, từng phút, sốc tới mặt trận Giải phóng miền Nam. Quyết chiến và quyết thắng". "Tôi được cấp trên giao cho bản mệnh lệnh của Đại tướng. Tôi đã đọc trước Đại đội, lòng tràn đầy xúc động" - Ông Tánh kể.
Cũng trong ngày 7-4-1975, Quân đoàn 2 xuất phát từ Đà Nẵng tổ chức tiến công phá vỡ các tuyến phòng ngự của địch, nhanh chóng đưa toàn quân đoàn vào tập kết ở Bắc Xuân Lộc trong vòng 18 ngày. Đại đội đảm bảo kỹ thuật sửa chữa xe hư hỏng do ông Tánh chỉ huy chịu trách nhiệm phía sau đội hình hành quân chiến đấu của Quân đoàn 2. Ông Tánh kể: "Quân đoàn 2 sau đó đã liên tiếp thực hiện thành công cách đánh thần tốc, táo bạo, bất ngờ bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng ngay trong hành tiến. Quân đoàn 2 đảm nhiệm tiến công tiêu diệt địch ở tả ngạn sông Đồng Nai, đưa pháo tầm xa vào Nhơn Trạch để đánh sân bay Tân Sơn Nhất.
Để thực hiện nhiệm vụ, Quân đoàn 2 tổ chức một lực lượng binh chủng hợp hành đánh thọc sâu bao gồm Lữ đoàn 203 tăng thiết giáp, cùng một số đơn vị pháo binh, công binh, cao xạ. Đúng 17 giờ, ngày 26-4-1975, cuộc tiến công của Quân đoàn 2 bắt đầu. "Số đầu xe của toàn lực lượng thọc sâu vào nội đô gần 400 chiếc các loại, xe nào cũng chở đầy các chiến sỹ quân phục chỉnh tề, tay đeo băng đỏ để nhận nhau trong chiến đấu, thành xe và tháp pháo đều được viết đậm dòng chữ: "Thần tốc - táo bạo - quyết thắng".
Đoàn xe tăng, cơ giới của Quân đoàn 2 tiến vào cổng Dinh Độc Lập, xe tăng 843 do Trung úy Bùi Quang Thận, Đại đội trưởng trực tiếp làm Trưởng xe, húc thẳng vào cổng phụ cạnh cổng chính, xe bị mắc kẹt. Ngay lúc đó, xe tăng 390 do Chính trị viên Đại đội Vũ Đăng Toàn chỉ huy lao lên húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập. Trung úy Bùi Quang Thận từ xe 843 chạy lên trên nóc Dinh Độc Lập cắm là cờ giải phóng lúc 11 giờ 30 phút, ngày 30-4-1975".
Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Tánh được bình xét là Chiến sĩ thi đua năm 1975, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ông cũng được tặng Huân chương Chiến công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Ông tiếp tục phục vụ trong quân ngũ đến năm 1990 thì nghỉ hưu.






