Biên phòng - Tháng Tư nóng như rang trên biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, tôi đứng ở vị trí cột mốc 203 nằm ở giữa ấp Bình Bắc, Bình Hòa Tây, Mộc Hóa, Long An (Việt Nam) và ấp Pray Vo, Ta Not, Kong Pong Ro, Svay Rieng (Cam-pu-chia) chứng kiến một phiên tuần tra chung đặc biệt trong dịp đầu năm mới Chol Chnam Thmay của nước bạn. Đồng lúa vừa gặt xong trơ gốc rạ dưới nắng cháy, 2 đội tuần tra đi chung một con đường tới cột mốc 203, sau sự kiện ồn ào xảy ra trên đường biên vài tháng trước đây.
Sau những nghi thức điều lệnh quy định của một phiên tuần tra chung giữa 2 đội tuần tra của hai quốc gia, các quân nhân hai bên nở nụ cười tươi trên khuôn mặt loang loáng mồ hôi dưới nắng. Họ rút trong quân trang ra mấy miếng giẻ và lặng lẽ lau sạch bụi đất, phân chim bám trên trụ đá hoa cương. Một người lính trong đội tuần tra nói với tôi, vùng này đất đai đúng là cò bay thẳng cánh. Cả vùng chỉ có cột mốc 203 cao vút đứng sừng sững giữa biển lúa, cho nên chim chóc hay đậu trên cột mốc. Những bờ ruộng mà dân Nam bộ hay gọi là bờ ôm, bởi nếu 2 ông chủ đi thăm ruộng muốn đi qua phải ôm nhau đổi chỗ để sang bên kia. Những thửa ruộng của người dân Việt Nam và Cam-pu-chia cũng vậy, san sát nhau, chia từng giọt nước trời, không bên nào vơi cạn.
Trung tá Nguyễn Hoa Hùng, Chính trị viên Đồn BP Bình Hòa Tây nói rằng, sự kiện mất an ninh trật tự tại cột mốc 203 diễn ra vào tháng 7 năm 2015, là do một nhóm người bị kích động từ nơi khác kéo tới. Người dân Ta Not của Cam-pu-chia và Bắc Bình của Việt Nam không có ai tham gia vào sự kiện quậy phá ồn ào này. Từ đó đến nay, lực lượng bảo vệ biên giới hai bên thường tổ chức tuần tra chung, chấp hành nghiêm quy chế biên giới, giữ vững chủ quyền của mỗi nước và tình đoàn kết, hữu nghị càng thắm thiết hơn. Sự bình yên này, nhiều thế hệ người dân hai bên biên giới đã phải đổi bằng mồ hôi, xương máu .
Ông Huỳnh Văn Đời, một lão nông sinh sống ở ấp Bình Bắc là một ví dụ. Cuộc đời ông mang theo một mối lương duyên ngọt ngào bền vững với người vợ gốc Cam-pu-chia của mình, chưa một ngày đổi dời niềm tin và tình yêu. Ông Hai Đời, sinh năm 1950, trước năm 1972, ông là chàng trai nghèo lưu lạc ở nước bạn, gặp cô gái mồ côi người Cam-pu-chia tên là Som Nuol (không rõ họ) cùng cảnh ngộ đã mang lòng thương mến. Hai người hồi đó sống chung trong một xóm nghèo ở thuê, làm mướn. Họ cưới nhau năm 1972 rồi một thời gian dài làm công việc nấu cơm, hậu cần giúp đỡ đoàn quân tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia.
Sau khi giải phóng miền Nam, ông Hai Đời đưa vợ về ở Bình Hòa Tây và nhập quốc tịch Việt Nam, an cư ở mãi nơi này. Vợ ông Hai Đời lấy quê chồng làm quê mình, gắn bó với mảnh đất đồng bưng này, hàng xóm láng giềng ai cũng yêu quý, nể phục. Ông Hai Đời nhắc tới người vợ mang dòng máu Khmer của mình đầy vẻ tự hào. Ông nói bà hiền lành, đàng hoàng, biết lớn biết nhỏ, biết đối nhân xử thế với họ hàng bên chồng, không khi nào lấn tới cả - ông Hai Đời mắt ánh lên nét vui tươi nói lớn: "Chẳng có điểm gì chê trách được bả, tôi nể nên càng đối xử tốt. Ấy vậy mà đã ở với nhau gần 50 năm rồi, chưa có lúc nào bả tủi thân muốn đòi về bển". Giờ hai ông bà ở với các cháu nội, con cái lớn lập nghiệp cả rồi, họ vẫn gắn bó với vùng biên giới này.
Cứ như cuộc đời ông Huỳnh Văn Đời đã nói lên được mối tương thân một nhà giữa nhân dân hai bên biên giới vậy. Ông Đời có một vuông dừa xanh ngắt cỡ 1,4ha với 500 gốc dừa đang cho trái. Đây là thành quả của công sức không nhỏ của ông trong 4 năm trời với cả công của bạn bè bên kia biên giới qua giúp nữa. Qua nước bạn, ông mới biết người Cam-pu-chia thích nước dừa lắm, mà dừa vẫn chưa được trồng nhiều trên vùng đất khô khát này. Ông bàn với mấy người bạn Cam-pu-chia vay vốn, mua cây giống rồi bỏ công về tận Bến Tre học cách trồng dừa. Có trái thu hoạch rồi cũng bán qua bên đó, được giá quá trời luôn, ông nghĩ thế.
"Vuông dừa mới bán được 1 vụ mà ông phấn khởi, gọi bạn bè ở bển qua chiêu đãi" - bà Som Nuol nói rưng rưng. Dịp Tết, mấy người quen bên ruộng Cam-pu-chia đều ghé căn chòi trông dừa của ông Hai Đời uống nước hàn huyên. Ông Đời gọi cái chòi nhỏ của ông là "Nhà khách quốc tế" bởi đó là chỗ ông tiếp khách quốc tế hoài - ông Đời cười tươi, chặt những buồng dừa ắp nước xuống đãi khách. Tôi nhấp một ngụm nước dừa bỏ miếng đá lạnh từ tay ông Hai Đời. Vị ngọt của nước dừa trên mảnh đất biên cương khiến tôi xúc động đến thế? Cốc nước dừa như làm khoảng trời biên cương dịu mát xanh trở lại, nét nồng hậu giữa khuôn mặt những người dân lam lũ bình dị ngồi chung với nhau cười nói bằng hai thứ tiếng Việt Nam pha lẫn Cam-pu-chia. Chẳng phải sự bình yên nào cũng được xây dựng trên tình người, trên những chân tình bằng hữu như những câu chuyện đời ở đây hay sao.
Trương Thúy Hằng







