Biên phòng - Tiết xuân làm cho cây cối xanh tươi, mai vàng nở rực. Trên gương mặt của mỗi người rạng rỡ niềm vui. Trong căn phòng ấm cúng, những mái đầu bạc ngồi quây quần, chuyện trò tâm đắc. Những người lính già hôm nay hội tụ để ôn lại kỷ niệm một thời mà mỗi người đã đóng góp một phần nhỏ bé vào truyền thống của BĐBP.
Đại tá Lê Quang Giảng, nguyên Chỉ huy phó Chính trị, trầm lặng nhớ về những người chỉ huy có mặt từ ngày đầu thành lập lực lượng. Đó là Chính ủy hiền hậu, giản dị Trần Kim Giá. Ông quê ở Quảng Trị, ông bị mất một cánh tay từ ngày đánh Pháp, chuyển sang lực lượng Công an nhân dân vũ trang trong những năm đánh Mỹ; ông là người chỉ huy đơn vị chiến đấu lập chiến công trong truy lùng biệt kích, đánh trả máy bay và bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền. Ông nghỉ hưu tại Khe Sanh, Quảng Trị, vui thú với vườn cây, ao cá. Chỉ huy phó Hồ Quang Vĩnh, một người luôn lạc quan, sống gần gũi với chiến sĩ. Năm 1977, trong lúc ông đi công tác, địch ném bom vào khu dân cư ở xã Trung Nghĩa, vợ và con ông bị chết. Nỗi đau quá lớn, nhưng ông đã nén lại, tiếp tục chiến đấu, bởi ông hiểu, cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Còn Phó Chính ủy Nguyễn Bá Liêm, một chỉ huy giản dị. Sau ngày chiến tranh kết thúc, ông được điều về làm Chính ủy một Trung đoàn Biên phòng, chiến đấu trên Cam-pu-chia. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trở về với cuộc sống gia đình chưa được bao lâu thì cả hai ông bà lâm bệnh nặng và về cõi vĩnh hằng. Với vị Chính ủy, Đại tá Phạm Xuân Hoàng, ông luôn bình tĩnh trong xử lý tình huống và luôn gần gũi, chăm lo đời sống cán bộ, chiến sĩ. Sau này là Chính ủy BĐBP Bình - Trị - Thiên, rồi được Bộ Tư lệnh điều ra làm Chủ nhiệm Hậu cần, Bộ Tư lệnh BĐBP. Khi trở về với đời thường chưa được bao lâu, cũng từ giã vợ con về với tổ tiên. Những người một thời gánh vác trọng trách của BĐBP Quảng Bình, giờ đây người còn, người mất, nhưng chắc chắn họ mãn nguyện, bởi ai cũng làm tròn nhiệm vụ của mình. Và tiếp đó là các anh: Lê Văn Hữu, nguyên là cán bộ trinh sát, rồi Chỉ huy phó một đơn vị Biên phòng; anh Nguyễn Văn Tề, cán bộ hậu cần, sau này tăng cường cho BĐBP Tây Nguyên; anh Thược là sĩ quan trinh sát từng gắn bó với đồng bào các dân tộc khu vực biên phòng, nhiều năm hoạt động ở Lào, Cam-pu-chia. Và các anh: Vừng, Dũng, Toàn, Trung, Nông, Năm, Phú... mỗi người một hoàn cảnh, nhưng có điều chung nhất là tấm lòng chung thủy với màu xanh biên phòng.
![]() |
Từ ngày chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lan rộng, Quảng Bình trở thành tiền tuyến của miền Bắc. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh chuyển về bám trụ nơi sơ tán. Ở đây được bà con đùm bọc giúp đỡ, cán bộ và chiến sĩ cơ quan chỉ huy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ biên giới và chi viện cho miền Nam. Những cái tên Cha Lo, La Roòng, Cà Xèng, Làng Mô, Làng Ho, Roòn, Sông Gianh, Lý Hòa, Nhật Lệ, Ngư Thủy phải hứng chịu hàng trăm tấn bom, đạn của giặc Mỹ rải thảm, quét từ các đồn biên phòng trên dãy Trường Sơn xuống dọc bờ biển. Chúng hủy hoại màu xanh của núi rừng, nhưng có một màu xanh vẫn ngoan cường, tỏa mát lòng người. Đêm đêm, màu xanh ấy lại xuất hiện trên núi, trên đèo, trên lòng suối cạn để cùng với thanh niên xung phong dẫn đường cho xe và người vào chiến trường. Lính lái xe qua ánh đèn mờ nhận ra ve áo màu xanh của người lính Biên phòng, họ yên tâm rú ga vượt đèo, cho dù mặt đất còn đầy bom đạn. Màu xanh ấy về với bản làng, ba cùng với nhân dân, chịu khổ, chịu thiếu thốn giúp dân sản xuất và bảo vệ biên giới. Giữa núi rừng Trường Sơn bạt ngàn, một tộc người bao năm quen sống trong rừng đã được các chiến sĩ quân hàm xanh của Đồn Cha Lo, Cà Xèng, Cà Roòng tìm về hòa nhập cộng đồng, trồng lúa, trồng ngô, học chữ, biết dùng thuốc chữa bệnh khi ốm đau, cuộc đời họ đã sang trang mới. Những cái tên thân quen: Hồ Ai, Hồ Phòm, Hồ La đã trở thành sĩ quan Biên phòng, làm nhiệm vụ trên quê hương mình. Và bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ gắn bó đời mình với biên phòng cho đến lúc nghỉ hưu, khi nhắc đến những kỷ niệm xưa, ai cũng xúc động.
Hiện nay, các huyện, thành phố đều có Ban liên lạc truyền thống BĐBP với tổng cộng hơn 300 cán bộ, chiến sĩ đã nghỉ hưu, mất sức, phục viên. Mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, nhưng tình cảm sâu nặng của màu xanh biên phòng vẫn mãi mãi ở trong trái tim họ. Anh Nguyễn Văn Diện, ở Đồng Phú, là một sĩ quan về hưu, không chịu cảnh thiếu thốn đã tìm hướng làm ăn, nâng cao đời sống. Anh vay vốn ngân hàng lập trang trại... 10 năm sau, trang trại của anh có 100ha rừng, 500m2 hồ nuôi cá; 25 con lợn thịt và lợn nái, lãi ròng hằng năm 50 triệu đồng. Giờ đây, trên đất Quảng Bình, không thể kể hết những mô hình làm ăn kinh tế, giúp nhau xóa đói giảm nghèo mà các cựu chiến binh Biên phòng đã lập nên. Có tới hàng chục đồng chí làm ăn khá, có người mua ô tô, xây nhà, nhưng họ không quên tình đồng đội, đồng chí, luôn quan tâm giúp đỡ những đồng đội bị thiệt thòi vì bệnh tật, vì sức khỏe hoặc hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn.
Chị Lê Thị Dần, một chiến sĩ gái của BĐBP về hưu đã huy động vốn lập trang trại trồng cao su, quyết chí làm giàu chính đáng. Nhiều cô gái như cô Huệ, cô Nga đã trở thành cán bộ chủ chốt của thành phố Đồng Hới và phường, xã nhiều năm, được dân tin yêu, đồng đội cảm phục. Đó chỉ là vài điển hình trong số hàng trăm điển hình về làm kinh tế giỏi và hoạt động xã hội tích cực, được Đảng bộ và nhân dân tín nhiệm.
Trong thẳm sâu của tình đồng đội, đồng chí, người lính Biên phòng có sự gắn kết sâu lắng là màu xanh trên ve áo biên phòng. Bởi màu xanh ấy thân quen, gần gũi, tôn nghiêm và cao quý, xen lẫn niềm tự hào kiêu hãnh trong ký ức của mỗi người.








