Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 02:50 GMT+7

Có một bảo tàng giữa lòng dân

Biên phòng - Chúng tôi về xã Phú Gia (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh), nơi đây ngày xưa là căn cứ địa Sơn Phòng của vua Hàm Nghi. Chúng tôi gặp một bảo tàng đang cất giữ những báu vật của vị vua yêu nước vương triều Nguyễn.

kphs_21a
Đền thờ vua Hàm Nghi. Ảnh: CTV

Tương truyền, đêm 20 tháng 9 năm 1885, trời không trăng, không sao, vua Hàm Nghi nằm ngủ tại thành Sơn Phòng thì mộng thấy một phụ nữ mặc áo đào đến bảo: "Nhà vua hãy rời khỏi nơi này, bọn "bạch quỷ" (tức giặc Pháp) đang vây bắt, cần phải định liệu". Tỉnh dậy, vua Hàm Nghi hỏi ở đây có đền thờ nữ thần nào không, nhân dân cho biết, cách đây không xa có đền Trầm Lâm thờ một nữ thần, đến nay nổi tiếng linh thiêng, được nhân dân tôn thờ.

Nhà vua mời gọi các cận thần lại thông báo giấc mộng và giao cho Tôn Thất Thuyết chuẩn bị sắc phong cùng các lễ vật để lễ tạ ở đền Trầm Lâm. Ngày 25 tháng 9 năm 1885, vua ban sắc phong cho nữ thần tại đền Trầm Lâm chức "thượng thượng đặng tối linh thần" kèm theo những phẩm vật quý giá như vi bố (màn bằng gấm có gắn 35 lục lạc bằng đồng dùng cho vua), áo mũ triều thần 8 bộ, cờ lộng, tàn quạt 20 chiếc, 2 con voi bằng vàng, 1 con voi bằng đồng, 2 bảo kiếm lưỡi bằng sắt cán bằng gỗ chạm hình rồng phượng sơn son thiếp vàng.

Theo lời những vị cao niên của làng Phú Gia thì những vật báu này đã được gìn giữ trong làng gần 130 năm. Điều đặc biệt là người dân bảo tồn vật báu bằng cách: Chuyền tay nhau. Làng quy định, nếu không có gì thay đổi thì 2 năm 1 lần, làng làm lễ chọn "cố đạo" (đạo chủ) mới giữ cổ vật. Công việc yêu cầu tuyển "nhân sự" cũng khá khắt khe: Cố đạo phải là người làng, liêm khiết, cẩn thận, con cháu hiếu thảo và vợ còn sống. Người giữ chức cố đạo không chỉ nhận được sự tín nhiệm của dân làng mà phải được sự "chấp thuận" từ các vị thần linh.

Để chọn được một cố đạo, làng chọn ra 3 cụ xứng đáng nhất. Khi đã có "ứng cử viên", làng tổ chức sắm lễ bao gồm: Hương, hoa, quả, phẩm, trà, tửu để làm lễ hạ nguyên (hạ keo). Sau 3 lần xin quẻ cho mỗi ứng viên, ai được sự đồng thuận nhất của thần linh thì làm cố đạo, lúc đó các báu vật và bàn thờ vua Hàm Nghi sẽ được chuyển về nhà cố đạo mới. Nếu thánh thần đã "ứng chứng" nhưng chưa "ứng chức" thì cố đạo cũ tiếp tục công việc. Chính vì tính nghiêm trang và sự tuyển chọn khá nghiêm ngặt về luật lệ và tâm linh mà ai được bầu làm cố đạo đều được làng tôn vinh và quý trọng như già làng ở Tây Nguyên vậy.

Chúng tôi tìm đến nhà cố đạo Lê Khắc Tùng. Cụ Lê Khắc Tùng khoảng 75 tuổi, da dẻ đỏ au, gương mặt phúc hậu. Nhà cụ Tùng có vườn rộng, cây cối sum suê, đặc biệt là rất nhiều cây cau, cả một rặng cau cao vút. Vợ cụ - một bà lão tóc đã bạc phơ, dáng người nhỏ nhắn, nhỏ nhẹ trong cả nói năng, cư xử. Cụ têm trầu, rót nước chè xanh mời khách thật đon đả mà vẫn ý tứ, còn nguyên dấu vết đảm đang, hiền thục của cô thôn nữ năm nào. Trong ngôi nhà nhỏ vách gỗ, lợp ngói đã ngả màu rêu có gian thờ vua Hàm Nghi ở giữa. Trên bàn thờ có di ảnh của ngài và đặc biệt hương vòng lúc nào cũng đỏ.

Cụ Tùng kể, có lần ban đêm đang nằm thiu thiu ngủ thì có ác mộng báo kẻ trộm vào lấy báu vật của vua Hàm Nghi, cụ giật mình tỉnh dậy nhìn quanh, các cánh cửa vẫn đóng chốt, nhưng nhìn lên bàn thờ thì hương vòng đã cháy hết mà chưa kịp thay. Từ đó, trước lúc đi ngủ, cụ lúc nào cũng thắp hương để không bao giờ bị tắt. Báu vật của vua Hàm Nghi được cất giữ cẩn thận trong két sắt. Nghe nói, ngày trước, các cụ còn khoét cả cột nhà gỗ (Hương Khê vốn là vùng rừng nhiều gỗ, các cây gỗ cột nhà thường đường kính rất to) để cho báu vật vào rồi ốp lại. Những năm tháng đói nghèo nhất, dân làng cũng không bao giờ chịu đổi báu vật để lấy gạo cứu đói.

Để tận mắt xem và chụp ảnh được các báu vật, chúng tôi phải trình cả thẻ nhà báo, các giấy tờ thủ tục khác; lại phải liên hệ cán bộ văn hóa ở địa phương dẫn đi. Két sắt có mấy lần chìa khóa mới mở được, trong đó, huyện giữ 1 chìa, cụ cố đạo giữ chìa kiểu khác. Để được phép mở báu vật hay không, phải tiến hành làm lễ xin keo. Cụ cố đạo thay bộ quần áo lễ, đánh một hồi chuông, 3 hồi trống rồi ngồi xuống chiếu gõ mõ và vái lạy thần linh để lo "phần âm", sau đó mới xin quẻ. Có nhiều đoàn kể cả cán bộ lãnh đạo cất công về đây, khi vào làm thủ tục xin quẻ gieo đôi đồng tiền 3 lần không được chấp thuận thì đành phải quay về, vì luật lệ "tâm linh" đã có như thế từ lâu phải chấp nhận. Thật may mắn, chúng tôi như một cơ duyên được cho xem báu vật sau khi xin quẻ ứng thuận.

Cụ Lê Khắc Tùng và một vài người dân láng giềng trải chiếc khăn đỏ lên bàn giới thiệu cho chúng tôi từng loại báu vật: Trong hộp thiếc 3 con voi hiện ra, 2 vàng và 1 đồng. Voi bằng đồng được đúc theo tư thế voi đang lâm chiến, vòi dài uốn cong vào tai phải, đuôi quặt mông cùng chiều bên phải, áp tai sát cổ, ngà cụt. Thân hình voi gầy, toàn thân lấm chấm lông. Voi vàng tạc theo tư thế đứng nhàn nhã, vòi buông thẳng, ngà nhọn, mặt tròn có nịt cổ và mang ngai vàng trên lưng. 3 con voi tuy kích thước nhỏ, con lớn nhất cao 4cm, lưng rộng 2,5cm; con nhỏ nhất cao 2,5cm, dài 3cm, lưng rộng 1cm nhưng đều toát lên dáng vẻ uy nghi vì nét chạm trổ sinh động. Báu vật còn có nghê đồng và chuỗi lục lạc 35 cái gắn màn gấm cho vua Hàm Nghi.

Cụ Lê Khắc Tùng bảo: Sở dĩ có gắn lục lạc để phòng an ninh khi có kẻ đột nhập lật màn, lập tức lục lạc kêu báo động cho quân cảnh vệ. Cố đạo Lê Khắc Tùng lấy ra 37 đạo sắc phong rực rỡ hoa văn. Trong những sắc phong ấy có sắc phong của chính vua Hàm Nghi phong thần cho "Hầu công kiến quốc nguyên Huân Dương chính tướng quân" ghi rõ: Hàm Nghi nguyên niên cửu nguyệt, nhị thập ngũ nhật (tức là ngày 25 tháng 9 năm 1885). Vậy là hơn 130 năm trôi qua, ngày đó giữa muôn trùng gian khó, nhưng vua vẫn không quên những tấm lòng tận tụy vì nước, vì dân mà ban sắc phong này cho Dương tướng công - vị tướng trấn ải biên cương Tổ quốc thời Lê!

rwm7_21b
Những báu vật của vua Hàm Nghi. Ảnh: CTV

Thấy chúng tôi tỏ ý băn khoăn trước gian nhà đơn giản không xây tường gạch kiên cố, cổng vào ra chắn bằng tấm tre đan, cố đạo lại già, việc bảo vệ báu vật chắc không thể đảm bảo như các bảo tàng có thiết bị hiện đại canh phòng cất giữ. Cụ Tùng cười: "Không lo chi mô, hàng đêm tôi vẫn ngủ ở đây để giữ quý vật đó".

Nói rồi cụ Tùng kể cho chúng tôi nghe câu chuyện được lưu truyền ở đây như một huyền thoại mà có thật: "Không ai dám lấy báu vật mô, lấy là chết đó! Này nhé, năm 1936, một trong hai con voi vàng bị Lê Yêm, con trai của cố đạo giữ báu vật Lê Triết mang sang Lào bán để lấy tiền mua đàn bò. Nhưng trên đường trở về, Lê Yêm bị một con bò húc vào bụng chết ngay tại chỗ, kẻ bạn đồng mưu với Lê Yêm là Lưu Duyên ở nhà bỗng nhiên phát điên. Gia đình người Lào cũng gặp họa; sau khi biết được tin này thì hoảng sợ, làm lễ, mang voi vàng trả lại cho dân làng Phú Gia".

Theo cụ cố đạo Tùng, ngoài việc gia đình luôn bảo vệ báu vật một cách kỹ lưỡng, Ban công an xã cũng có kế hoạch trông coi để báu vật được gìn giữ lâu dài ngay "giữa lòng dân".

Nguyễn Ngọc Phú

Bình luận

ZALO