Biên phòng - Nằm ở cực Bắc của Tây Nguyên, nơi ngã ba biên giới của 3 nước Đông Dương, Kon Tum là vùng đất có nền văn hóa cổ truyền đậm đặc bản sắc của đồng bào các dân tộc: Xê Đăng, Giẻ Triêng, Ba Na, Gia Rai, Rơ Măm và Brâu. Song cùng với tốc độ phát triển, các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể ở vùng đất này đang có nguy cơ mai một do ý thức chủ quan của con người, môi trường và hoàn cảnh khách quan tạo ra, đặc biệt là đối với hai dân tộc có dân số dưới 10.000 người là Brâu và Rơ Măm.
![]() |
| Cán bộ Đồn BPCK Bờ Y, BĐBP Kon Tum hướng dẫn bà con dân tộc Brâu ở Đăk Mế, huyện Ngọc Hồi trồng cà phê. Ảnh: Q. Dinh |
Qua nghiên cứu về lịch sử hình thành và tồn tại của người Brâu và Rơ Măm thì người Brâu (còn gọi là người Brạo) sinh sống chủ yếu tại Cam-pu-chia, Lào và một ít tại Việt Nam. Còn người Rơ Măm cũng từ Cam-pu-chia sang định cư và sinh sống trên đất Việt Nam khoảng từ những năm 1910 đến 1915 với 12 làng sống cạnh dân tộc Gia Rai. Tính đến thời điểm tỉnh Kon Tum được tái lập năm 1991, thì hai dân tộc Brâu và Rơ Măm có số dân dưới 300 người và hầu như không tăng trưởng.
Đến nay, tình hình dân số của 2 dân tộc này đã từng bước được cải thiện, trong đó: Dân tộc Brâu sinh sống qua 6 thế hệ trên đất Việt Nam với 124 hộ/450 nhân khẩu, cư trú tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Còn người Rơ Măm, theo thống kê của UBND xã Mô Rai vào tháng 12-2013 có 111 hộ/414 khẩu cư trú tập trung ở làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
Bằng nhiều nỗ lực bảo tồn của các cấp ủy Đảng, chính quyền và ngành Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnh Kon Tum, bản sắc văn hóa của người Brâu và Rơ Măm được khôi phục và phát huy. Ngành Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnh cũng đã xây dựng đề tài nghiên cứu bảo tồn văn hóa dân gian của người Brâu từ năm 1996, cùng nhiều đề tài bảo tồn các lễ hội truyền thống của dân tộc Brâu và Rơ Măm như: Đề tài bảo tồn lễ hội mở kho lúa của dân tộc Rơ Măm năm 1998, Đề tài bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Brâu năm 2005... Qua đó, đã khôi phục được nghệ thuật tấu cồng chiêng, sưu tầm lại các bài chiêng cổ, chiêng lễ, chiêng hội theo đặc thù và giá trị của các bộ chiêng cùng các lễ hội như lễ thổi tai, lễ hội ăn lúa mới...
Cùng với đó, bản thân đồng bào dân tộc Brâu và Rơ Măm cũng đã có ý thức bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Ông A Giói ở làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy cho biết: Trước đây, dân làng còn lạc hậu, cuộc sống đói khổ nên khi có người gạ gẫm bán các loại nhạc cụ, đặc biệt là cồng chiêng để đổi lấy các loại vật dụng sinh hoạt đã làm theo, dẫn đến hiện tượng nhiều bộ cồng chiêng quý của dân tộc rơi vào tay những người sưu tầm đồ cổ.
Tuy nhiên, được các cấp chính quyền và ngành văn hóa tuyên truyền, đặc biệt là khi được UNESCO công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại năm 2005, người dân Rơ Măm đã "thức tỉnh" bảo ban nhau gìn giữ tài sản quý giá mà ông cha để lại. Nhờ vậy mà làng Le vẫn giữ được khoảng 100 bộ cồng chiêng gồm 80 bộ chiêng Hoăn và 20 bộ chiêng Lào, trong đó có nhiều bộ chiêng cổ quý hiếm như của già làng A Ren.
Tuy nhiên, ở góc nhìn khách quan thì trong suốt 24 năm qua kể từ ngày tái lập lại tỉnh, các dự án, đề án phát triển kinh tế-xã hội, trong đó có hỗ trợ về vật chất đã mang lại hiệu quả không cao về mặt bảo tồn bản sắc văn hóa của đồng bào, thậm chí còn phá vỡ cảnh quan môi trường sống của đồng bào. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng bảo tồn không hiệu quả là do trong các hạng mục đầu tư phát triển kinh tế-xã hội cho dân tộc Brâu và Rơ Măm thì mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống khá mờ nhạt, mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng, thay đổi môi trường sống cho đồng bào gắn với phát triển kinh tế, xã hội mà "bỏ quên" yếu tố bảo tồn di sản văn hóa.
Năm 2005, Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum được UBND tỉnh ủy quyền làm chủ đầu tư dự án hỗ trợ phát triển dân tộc Brâu thì đến năm 2006 chỉ có 15 triệu đồng/40,5 triệu đồng được chi cho thiết bị nghe nhìn phục vụ bà con; đến năm 2008 thì chỉ có 20 triệu đồng trong tổng số hơn 7 tỷ đồng được sử dụng vào mục đích văn hóa, gồm hỗ trợ hoạt động văn hóa 10 triệu đồng hỗ trợ tổ chức 2 lễ hội mừng gặt lúa và mừng lúa mới 10 triệu đồng...
Theo lãnh đạo của Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnh Kon Tum tại Hội nghị-Hội thảo giải pháp bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của 16 dân tộc thiểu số có số dân dưới 10.000 người tại Hà Nội do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tháng 8-2015 thì: Việc bảo tồn văn hóa của hai dân tộc Brâu và Rơ Măm vô cùng khó khăn, bởi văn hóa bao giờ cũng đi cùng với phong tục tập quán nhưng hầu hết các phong tục đó đã lỗi thời, lạc hậu.
Trước đây, văn hóa truyền thống của hai dân tộc này vận hành theo vòng đời của cây lúa và đời người, theo lịch tiết của nhu cầu tâm linh có hệ thống thì nay phương thức sản xuất "phát, đốt, chọc, trỉa" theo kiểu tự cung tự cấp đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi... Đồng bào được tiếp cận với khoa học kỹ thuật, thiết lập các quan hệ kinh tế thương mại, trao đổi hàng hóa; nhịp điệu mùa màng cũng đã thay đổi, yêu cầu về chăm sóc, thu hái, tiêu thụ sản phẩm cũng không còn như trước.
Phong tục, tập quán thay đổi, cái cũ thì không còn phù hợp, cái mới lại chưa hoàn chỉnh, trong khi cuộc sống của người dân Rơ Măm và Brâu thì vẫn vận động không ngừng, đặc biệt là lớp trẻ khao khát tìm hiểu, tiếp cận những yếu tố văn hóa mới; chính vì vậy, người Rơ Măm và Brâu đang mất dần bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình vì không theo kịp đời sống kinh tế-xã hội trong nước.
Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân khiến văn hóa truyền thống của Rơ Măm và Brâu đang đứng trước sự "xâm thực" của đời sống xã hội là các chính sách bảo tồn thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng và sự tham gia của chính chủ nhân hưởng lợi từ dự án. Hầu hết các dự án thời gian qua triển khai đến hai dân tộc Brâu và Rơ Măm nặng về đầu tư, chưa chú ý đến khía cạnh tinh thần, đời sống văn hóa tâm linh của người dân.
Đơn cử như việc vận động người Rơ Măm xóa bỏ hủ tục chôn chung người chết ở các thời điểm khác nhau trong thân cây đục rỗng hay đám tang tổ chức linh đình, lãng phí, khi đời sống của người dân còn đang gặp rất nhiều khó khăn. Các cấp chính quyền địa phương phải kiên trì vận động nhiều năm bà con mới làm theo, song trong tâm thức một bộ phận người dân vẫn muốn quay trở về phong tục cũ đã lỗi thời. Hay như việc bà con Brâu ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi từ chối thẳng thừng khi chính quyền xây dựng nhà rông văn hóa nhưng lại lợp tôn, vách ván thay vì lợp cỏ tranh, vách nứa truyền thống.
Và kết quả là từ khi ngôi nhà rông văn hóa được khánh thành năm 1995 đã trở thành nhà "hoang" và cuối cùng đã sụp đổ theo thời gian bởi vắng bàn tay chăm sóc của con người. Đối với đồng bào Rơ Măm cũng có những hệ lụy không nhỏ, đó là việc những ngôi nhà dài cổ truyền bao quanh trung tâm làng đã được thay thế bằng những ngôi nhà cấp 4.
Thiết nghĩ, đã đến lúc các nhà nghiên cứu xây dựng các dự án, chính sách phát triển kinh tế-xã hội, bảo tồn văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Rơ Măm, Brâu nói riêng, phải có sự khảo sát, nghiên cứu một cách có hệ thống về sự biến đổi, phát sinh của văn hóa truyền thống của từng cộng đồng dân tộc để có cách làm phù hợp trong việc kế thừa, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc.
Bên cạnh đó, phải nắm bắt nguyện vọng, hiểu rõ phong tục tập quán của bà con để xác định mục tiêu đầu tư phù hợp với từng dân tộc và phải tuyên truyền cho đồng bào biết nội dung, ý nghĩa của dự án để từ đó xác định trách nhiệm của người dân, khắc phục tư tưởng ỷ lại, trông chờ Nhà nước trong bà con. Đồng thời, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc Rơ Măm, Brâu, đây là nhu cầu cấp thiết nhất để bảo tồn và phát huy bản sắc hai dân tộc này. Việc khôi phục các phong tục, lễ hội truyền thống phải làm sao để loại hình di sản đó đủ sức hấp dẫn bà con, đặc biệt là lớp trẻ.
Muốn vậy, môi trường hoạt động của di sản phải được tạo lập theo đúng nguyên bản và do chính đồng bào các dân tộc tổ chức thực hiện trên cơ sở tự nguyện. Điển hình như bảo tồn di sản vật thể nhà rông Tây Nguyên cần có chính sách về khai thác nguyên vật liệu để xây dựng và sửa chữa. Đây là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong cộng đồng dân tộc Rơ Măm, Brâu khi rừng già ở sát cạnh làng mà không thể có nổi một cây gỗ để dựng nhà rông, hay bắt bà con phải sử dụng cồng chiêng, nhạc cụ không phù hợp với tập quán bản địa...







