Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 08:08 GMT+7

Công cụ quan trọng để bảo vệ môi trường biển

Biên phòng - Trong những năm gần đây, môi trường biển đảo bị ảnh hưởng khá nhiều bởi các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên để phát triển kinh tế. Có thể thấy, tần suất xảy ra các vụ tai biến môi trường như: Cá chết hàng loạt, thủy triều đỏ, tràn dầu... xảy ra ngày càng nhiều. Những sự cố đó dẫn đến chất lượng nước biển bị suy giảm và ô nhiễm, các hệ sinh thái bị ảnh hưởng, các nguồn tài nguyên bị giảm sút, cạn kiệt. Thực tế hiện nay đòi hỏi cần có một công cụ đủ mạnh mang tính liên vùng, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, các hệ sinh thái biển.

ufxm_7b
Bất cứ hoạt động nào của con người trên biển nếu không được quản lý tốt, sẽ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường biển, đảo.

Ngày 25-6-2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Luật này gồm 10 chương, 81 điều với phạm vi điều chỉnh tập trung vào quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo Việt Nam; hoạt động bảo vệ môi trường, quản lý, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo thực hiện theo quy định của các luật có liên quan và bảo đảm phù hợp với các quy định tại Luật. Luật đã đề cập đến nội dung Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ (sau đây gọi tắt là quy hoạch tổng thể).

Quy hoạch tổng thể là định hướng và tổ chức không gian cho việc khai thác, sử dụng các loại tài nguyên trong vùng bờ. Quy hoạch được quy định trong Luật bao gồm các nội dung: Nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch; phạm vi, nội dung, kỳ quy hoạch; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch; lấy ý kiến và công bố quy hoạch; tổ chức thực hiện quy hoạch; mối quan hệ giữa quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ với các quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên, quy hoạch phát triển ngành, địa phương; nguyên tắc phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ.

Thông thường, các quy hoạch phát triển ngành, địa phương có nội dung liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ hiện tại, khi xây dựng đều có đánh giá môi trường chiến lược. Tuy nhiên, về cơ bản, các quy hoạch này đều được xây dựng với mục đích khai thác, sử dụng tối đa các nguồn lực để phát triển ngành, lĩnh vực… Thực tế cho thấy, giữa các quy hoạch ngành, lĩnh vực, địa phương thường xảy ra sự mâu thuẫn chồng chéo, tài nguyên biển bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả.

Trong khi đó, quy hoạch tổng thể cần nhất quán nguyên tắc đảm bảo hài hòa trong khai thác, sử dụng tài nguyên bảo vệ môi trường và phát triển bền vững vùng bờ. Quy hoạch tổng thể cũng không làm thay quy hoạch ngành, lĩnh vực, mà đóng vai trò điều phối chung nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả các loại tài nguyên biển và hải đảo. Điều này giúp khai thác, sử dụng tài nguyên biển một cách hợp lý, giảm bớt sự chồng chéo giữa các ngành, lĩnh vực. Đồng thời, nó còn giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, bảo vệ được các hệ sinh thái quan trọng.

Theo quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên, quy hoạch phát triển ngành, địa phương có nội dung liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được phê duyệt. Do đó, khi quy hoạch tổng thể ra đời sẽ tạo ra phương thức khai thác, sử dụng các tài nguyên một cách bền vững, đảm bảo môi trường biển cho sự phát triển lâu dài.

Hiện nay, phần lớn hiện tượng ô nhiễm biển có nguồn gốc từ đất liền. Các tỉnh ven biển Việt Nam là nơi tập trung đến 50% dân số cả nước, trên 300 đô thị các loại, cùng hàng chục triệu khách du lịch mỗi năm. Các nguồn ô nhiễm từ đất liền theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác. Một số chất khác bị phân hủy và lan truyền trong toàn khối nước biển. Vì vậy, cần một phương thức quy hoạch mang tính chất liên vùng nhằm kiểm soát, hạn chế việc ô nhiễm biển ngay từ nơi phát sinh ô nhiễm.

Theo quy định tại Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo thì Quy hoạch tổng thể vùng bờ được lập cho toàn bộ vùng bờ của cả nước. Đây là khu vực chuyển tiếp giữa đất liền hoặc đảo với biển, khu vực này bao gồm cả vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển. Do đó, với phạm vi quy hoạch bao gồm cả vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển sẽ có tác dụng giảm thiểu, ngăn chặn được ô nhiễm ngay từ nguồn phát thải, giúp cải thiện môi trường biển.

9dtl_7a
Việc khai thác rong mơ quá mức dẫn tới cạn kiệt, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và hệ sinh thái biển. Ảnh: Bích Nguyên

Nhận chìm ở biển (là việc trút bỏ có ý thức xuống biển các chất thải và các chất khác từ tàu thuyền, tàu bay, giàn khoan nổi hoặc công trình khác được bố trí ở biển) là một nội dung không thể thiếu trong bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Có rất nhiều chất thải, vật thải như bùn cát nạo vét khi xây dựng cảng, duy trì luồng tàu, tàu thuyền cũ, hỏng… không thể thải ở trên bờ mà phải nhận chìm ở biển.

Tuy nhiên, trong những năm qua, việc nhận chìm ở biển còn thiếu kiểm soát ở mức độ vĩ mô, chưa có phân vùng cụ thể trên phạm vi cả nước quy định các vùng để nhận chìm. Tại Điều 57, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã quy định, khu vực biển sử dụng để nhận chìm phải phù hợp với quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ. Do đó, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ sẽ giúp xác định rõ các khu vực biển dùng để nhận chìm, qua đó giảm thiểu các tác động xấu do việc nhận chìm đối với môi trường và hoạt động sử dụng biển của các ngành, lĩnh vực.

Một trong những công cụ quan trọng của Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ, đó là công cụ phân vùng, đây là một phương pháp tiên tiến lần đầu áp dụng ở Việt Nam trên quy mô cả nước. Thông qua việc phân vùng sẽ đảm bảo được sự hài hòa giữa nhu cầu khai thác sử dụng và yêu cầu bảo vệ tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái biển, hải đảo. Kết quả của phương án phân vùng biển sẽ hướng tới việc đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, các hệ sinh thái biển, hải đảo nhằm phục vụ phát triển bền vững vùng bờ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh - quốc phòng.

Hà Thanh Biên

Bình luận

ZALO