Biên phòng - Có những con người mà số phận của họ luôn được định danh bằng hai từ "bất hạnh". Hơn 30 năm nay, kể từ khi mãn hạn tù, có một người đàn bà tuổi đã lão niên, thảm thiết xin ở lại trại để tiếp tục "kiếp tù đày" vì "đây là quê hương của tôi" và "có về cũng chả biết đi đâu!". Cứ thế, người đàn bà không chốn dung thân ấy, lặng lẽ sống nương nhờ sau khu K4 của Trại giam số 5, lặng lẽ viết nên câu chuyện thấm đẫm tình người ở chốn lao tù. Và có lẽ, đó cũng là câu chuyện hy hữu, "độc nhất vô nhị" trong lịch sử trại giam Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Ốc khá "nổi tiếng" ở Trại giam số 5, thuộc Bộ Công an, đóng trên địa bàn huyện Yên Định, Thanh Hóa. "Nổi" chả kém gì người đàn bà ném tiền tỷ qua cửa sổ Lã Thị Kim Oanh hay Nguyễn Thị Hoa, "Người đẹp Điện Biên" trong vụ án ma túy xuyên quốc gia Xiêng Phênh - Vũ Xuân Trường hoặc người mẫu Quỳnh Ngọc, biên tập viên sáng giá của Đài Truyền hình Hà Nội... Ngồi nghe bà kể, trước sự chứng kiến của các cán bộ Trại giam số 5 và ngay cả khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi cũng không muốn tin trên đời lại có thân phận đớn đau đến vậy.
So với những tù nhân "lừng lẫy tiếng tăm" ấy, hoặc với bất cứ ai trong số hơn 1.000 phạm nhân nữ đang thụ án trong cái trại giam nơi rừng xanh núi thẳm này, bản án "3 năm" của bà Ốc chả thấm tháp vào đâu. Bà "nổi" cũng không phải vì những mưu ma chước quỷ, những vô luân tàn độc hay vì đã gây tội ác trời không dung đất không tha như muôn người trong cái "thế giới áo kẻ sọc", mà "nổi", vì trót mang thân phận "giời đày" với một kiếp sống đầy những bi thương, vô vọng.
Ông trời gần như lấy đi hết tất cả những gì bà có, ngoài kiếp làm người. Lần giở cuộc đời bà, từ nhỏ tới giờ là lớp lang những bi kịch mà quãng khúc nào cũng đầy ăm ắp. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, không người thân, không tấc đất cắm dùi, hai anh em bà Ốc dắt díu nhau lang thang đầu đường xó chợ, đói rách rã rời nơi làng quê nghèo ở đất Hà Nam Ninh (bà Ốc không nhớ mình sinh ra ở đâu, chỉ nhớ mang máng vùng đất ấy thuộc tỉnh Hà Nam Ninh cũ - PV). Đến giờ, khi nhắc nhớ về cái "tuổi thơ dữ dội" của mình, bà chả nói được gì nhiều. Có chăng cũng chỉ là những ký ức nhập nhòa kiểu như "đận đó "nhà cháu" đói lắm, sâu còn chả có mà ăn", hay "đêm ngủ ngoài gốc đa, rét đắp bằng lá chuối. Nửa đêm, gió thổi lá bay...!".
Thời ấy, quê bà Ốc nghèo lắm. Bà đi ăn xin, nó cũng là cái sự bần cùng của kẻ "rách nhiều" ngửa tay với người “rách ít". Khi lòng thương hại của thiên hạ đã vơi, hoặc có đầy cũng chẳng còn gì chia sẻ, anh em bà nhảy tàu tìm về ga Hàng Cỏ, tiếp tục xin ăn. Lay lắt chốn ba quân như thế mà lớn dần, rồi đến một ngày bà Ốc trở dậy và không thấy anh trai mình bên cạnh.
Nhiều đêm tiếp theo, bà vẫn thức đợi anh về. Có lần xin được tấm mía, bà giắt cạp quần để phần anh, thèm lắm, đói lắm cũng chỉ dám bỏ ra hít hà vài cái. Mãi về sau, bà mới nghe người làng kể lại rằng, đã gặp anh trai đang lang thang hành khất ở tít tận Sài Gòn. Từ đó, bà trở thành cô độc. Tấm mía giắt cạp quần quắt queo như cọng rơm khô.
Sau chuỗi ngày dài đói khát, bà tiếp tục bám lấy nhà ga và những chuyến tàu đi về đều đặn mà sống. Không có anh trai, bà không tránh nổi những trận đòn hội đồng của những phe cánh xin ăn khác. Có lẽ vì những trận đòn này mà đôi khi trí tuệ của bà cũng không được như người bình thường.
Khi trưởng thành, bà đi xách hàng thuê cho hành khách đi tàu, nhưng không phải lúc nào cũng có việc bởi giữa buổi thóc cao gạo kém, người khoẻ mạnh còn chả ăn ai nữa là người ngu ngơ hâm dở. Trong một cơn đói đến hoa mày chóng mặt, bà quyết định đi ăn cắp. Lần ấy, bà bị bắt, lĩnh án 3 năm tù rồi được đưa về trại giam này từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước.
"Cho "cháu" ở tù đi, cán bộ ơi!"
Thường thì ở đời, con người ta vướng vòng lao lý, tù tội cũng là cái chuyện chẳng đặng đừng. Nhưng với bà Ốc, cái sự "đi tù" vô tình lại giải thoát cho bà khỏi chuỗi ngày sống lầm than, cơ cực nơi đầu đường, xó chợ. Cuộc đời bà được lật mở sang một trang khác, tươi sáng hơn. Không còn canh cánh nỗi lo đói khát, không còn cảnh ngủ bờ, ngủ bụi với cái bụng sôi réo ùng ục mỗi đêm đông. Và hơn hết, ở đây, bà nhận được tình thương yêu, lòng nhân hậu, bao dung của các cán bộ trại giam, những người đã dày công chăm sóc, giáo dục, động viên bà hướng thiện.
Kể từ khi bước chân vào trại, bà được làm một người nông dân thực thụ, biết cấy lúa, trồng rau, biết chăn trâu cắt cỏ, biết tận hưởng niềm vui thu hoạch. Những ước mơ bình dị mà xưa kia, một người vốn sinh ra đã là nông dân mà không một tấc đất như bà, có nằm mơ cũng không bao giờ với tới. Bà tích cực lao động cùng các chị em phạm nhân nữ khác và vui khi thấy những bông lúa lên nhanh, vườn rau xanh lá và hài lòng với cuộc sống đơn giản, hồn hậu của mình bên ruộng đồng, gà vịt.
Nhưng rồi cũng đến lúc cái án tù 3 năm của bà kết thúc, khi cầm trên tay quyết định ra trại, bà Ốc như cô bé trường làng bị thầy đuổi học. Bà chới với, chơi vơi như người sắp chết đuối. Biết đi đâu, về đâu khi không quê hương, không người thân thích? Mà bấy lâu nay, bà cũng đã xem trại giam là nhà, cán bộ giám thị là người thân ruột thịt của mình. Rời xa, bà không nỡ. Mấy ngày liền, bà ôm bọc quần áo vạ vật ngoài cổng trại giam, cán bộ nào đi qua cũng níu áo trình bày thống thiết: " Cho "cháu" quay lại ở tù đi, cán bộ ơi!".
Bà van nài thiết tha đễn nỗi, Ban lãnh đạo trại lúc bấy giờ phải tổ chức họp lấy ý kiến về cái "nguyện vọng ở tù" hy hữu ấy. Rồi năm lần, bảy lượt đoàn cán bộ trại lặn lội đi xác minh khắp tỉnh Hà Nam Ninh (cũ), đều công nhận bà Ốc "5 không": Không cha mẹ; không nhà cửa; không chồng con; Không họ hàng và không nơi nương tựa. Cảm thông trước hoàn cảnh đáng thương, trại "chiếu cố" cho bà ở lại. Và từ đó, bà trở thành "tù nhân bất đắc dĩ", trở thành người "nổi tiếng".
Giữa miền gió Lào bỏng rát, sáng mở mắt ra là thấy kẻng báo đi làm, thấy rợp đất dáng áo sọc của tù nhân, tối mịt vẫn miên man với những câu chuyện buồn vui của những phận tù. Ai đã trót vào đây, đều mong sớm có ngày thoát khỏi những bức tường bê tông, dây thép gai chăng lừng lững để về đoàn tụ gia đình. Cũng không thiếu kẻ vẫn còn ngày đêm nung nấu ý định đào tường, khoét vách để trốn chạy khỏi kiếp tù đày. Ấy vậy mà bà Ốc lại nằn nì xin ở lại, mà ở liền tù tì hơn 40 năm thì âu cũng là chuyện lạ ở đời.
Nhưng khi đã gặp, đã tận mắt ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ, nụ cười đôn hậu của bà Ốc lấp lóa sau xanh rì hoa lá, mới thấy được cái chuyện xin "ở tù" nó chả lạ chút nào. Bà đã tìm được chốn bình yên giữa sự bao bọc của lớp lớp cán bộ trại giam, giữa tình thân ái với các "bạn" tù. Ở đây, nhiều phạm nhân còn gọi bà là mẹ, khiến bà cảm động rơi nước mắt. Bởi, với một người đàn bà gần 80 tuổi, đầu phơ phơ bạc mà chưa mảnh tình vắt vai, cũng chưa từng biết đến sự luyến ái, yêu thương của một người phụ nữ bình thường thì cái chuyện được "làm mẹ" đến mấy chục "đứa con áo sọc" kia cũng là hạnh phúc lắm rồi.
Gia tài của bà Ốc bây giờ là một "lô" (cách gọi những căn nhà nhỏ nằm giữa đồng trong khu vực trại giam quản lí) nhỏ dưới bóng cây mít cổ thụ, một chiếc ti vi, một đàn chó con và một bầy vịt đẻ. Bà ở cùng một phạm nhân khác quê ở Thủy Nguyên, Hải Phòng. Mỗi tháng, bà được trại cấp cho tiêu chuẩn gạo, thịt bằng với các phạm nhân. Bà được tự do đi lại trong các phân trại và được phép ra ngoài khu vực trại giam khi cần thiết.
Khi được hỏi, liệu bà có dự tính đi đâu? Bà Ốc chỉ thẽ thọt: "Tôi sẽ ở đây đến khi nào tổ tiên mình réo gọi. Tôi dành dụm được 6 triệu gửi cán bộ trại để sau này khi tôi đổ bệnh hoặc chết thì lo tang ma cho tôi". Rồi bà đứng lên, tiến về phía chái nhà hái tặng tôi một đóa hồng bạch rất thơm, bảo, "cháu" trồng được hoa này, tặng cán bộ cài tóc.
Thế mới thấy được, giữa chốn lao tù, không chỉ có mưu mô, tội ác của những kẻ rạch giời rơi xuống, mà nó còn lấp lánh thứ ánh sáng của pháp luật nhân văn, của tình người rộng lượng. Nhờ đó, nó giúp cho con người ta rũ bỏ u mê tìm về nẻo thiện và giúp những kẻ biết quay đầu làm lại cuộc đời và vững tin rằng đây là bến hoàn lương.







