Biên phòng - Nói đến rừng Sác, người ta thường nghĩ đến chiến công của Đặc công rừng Sác lừng lẫy, nhưng còn rất ít người biết được trong cánh rừng đó còn có chứng tích của một nền văn minh khá cao cách đây hơn 2.000 năm.
![]() |
| Khuyên tai bằng đá ngọc trang trí hai đầu thú, khai quật ở Giồng Cá Vồ. |
Rừng Sác không chỉ có ở huyện Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh), mặc dù hiện nay, đây được xếp vào một trong những khu dự trữ sinh quyển lớn của thế giới và khu du lịch sinh thái nổi tiếng của nước ta, mà còn có ở các huyện phía Nam của tỉnh Đồng Nai và ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu. Nằm trong vùng rừng Sác là nghĩa trang liệt sĩ huyện Nhơn Trạch (có đến hơn 2.000 liệt sĩ rừng Sác). Quanh đó, có nhiều làng cổ cách đây 2.000-3.000 năm mà chúng tôi đã khai quật như Rạch Lá, Gò Me, Cái Vạn, Cái Lăng, Bưng Thơm, Bưng Bạc… Qua đó mới thấy, mảnh đất rừng ngập mặn phương Nam này không chỉ có máu xương các chiến sĩ đã đổ để giành độc lập tự do, mà còn là nơi lớp lớp tiền nhân đổ bao mồ hôi, công sức khai hoang, lập ấp, giữ biển từ hàng ngàn năm nay.
Các nhà khảo cổ đã tìm được vết tích hàng chục làng cổ mọc lên ở mảnh đất khắc nghiệt này. Dù hiếm nước ngọt, bùn lầy nước đọng, nhưng vượt mọi khó khăn, người xưa đã tạo lập một cuộc sống phong phú. Từ những chứng cứ vật chất, chúng ta có thể hình dung được hình ảnh đời sống của họ. Nhà cửa là dạng nhà sàn dựng trên những thân cây gỗ đước cắm xuống dòng kênh rạch. Mỗi nhà như vậy có mặt sàn khoảng 20m2. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những cọc sàn còn nguyên trong lòng đất. Có thể ngôi nhà nhỏ bé, đơn sơ ấy được lợp mái lá dừa nước như dạng nhà sàn dựng ven sông rạch của đồng bào Nam bộ hiện nay.
Mấy ngàn năm mà dạng nhà sàn như vậy vẫn không có sự thay đổi. Bù vào chuyện ở nhà sàn đơn giản là đời sống vật chất phong phú. Cái ăn hầu như dễ kiếm, chẳng bao giờ phải lo vì dựa vào biển. Người xưa đã đóng thuyền, bè ra khơi đánh bắt cá, thu lượm hải sản. Bên cạnh cuộc sống biển cả, họ cũng đã dành một số nhân lực làm rẫy. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những chiếc rìu đá để chặt cây, khai hoang, đóng thuyền. Ngoài rìu đá còn có rìu đồng sắc bén hơn. Bằng chứng là đã tìm được khuôn đá đúc rìu, minh chứng người xưa đúc rìu tại chỗ. Họ còn biết làm đồ trang sức như vòng tay bằng đá, bằng vỏ ốc, nhuyễn thể… và một loạt đồ gốm. Thậm chí, một số mảnh "ông đầu rau" khá đặc biệt làm bằng gốm cũng được tìm thấy ở vùng này. Đó là một loại đồ gốm mà người Nam bộ vẫn gọi là "cà rằng" (giống như một cái chảo gốm có 3 tai chìa ra để đặt nồi lên trên, lòng chảo đặt củi để đun). Loại hình đun nấu này đã có từ hơn 2.000 năm nay, giờ đây ngoài chợ, người dân quê vẫn còn đang sản xuất để bán. Cái loại cà rằng vừa giống bếp lò, vừa giống kiềng ba chân này thích hợp với việc đi xuồng trên sông, rạch, biển. Đây có thể coi là một nét văn hóa Nam bộ hàng ngàn năm vẫn không thay đổi vì thích nghi với điều kiện sống ở vùng sông nước.
![]() |
| Hoa tai bằng vàng đào được trong vùng rừng Sác. |
Trong số các hiện vật được đào từ trong lòng đất, có hiện vật đã gây sự bất ngờ cho các nhà khảo cổ. Đó là hiện vật gỗ giống hình cái xẻng, có tay cầm và kích thước chỉ to bằng 1-2 bàn tay. Chất liệu gỗ thường bị mủn nát theo thời gian, nhưng ở đây là môi trường bùn lầy, yếm khí nên trong lòng đất bùn, hiện vật được "bảo quản" cực tốt.
Thoạt tiên, các nhà khoa học không hiểu tác dụng của loại "xẻng" gỗ này, trong lúc người xưa đã có những chiếc rìu đồng, rìu đá, cuốc đá để chặt cây và đào đất. Sau đó, nghe người dân địa phương giải thích mới biết công dụng của loại hiện vật này là dùng để đào đất bùn tìm "chem chép" (một loại ngao vùng ven biển hay nước lợ). Hiện, người dân vẫn đào đất bùn bằng loại công cụ gỗ này, hệt như công cụ đã có tuổi hơn 2.000 năm mà các nhà khảo cổ đào được. Dường như thời gian ngưng đọng, người ven biển vẫn giữ lại cách đào tìm "chem chép" như tổ tiên xa xưa. Có lẽ thiên nhiên vùng rừng ngập mặn đã cho họ những sản vật như trời cho vậy. Ngày nay, nếu ai có dịp đi du lịch qua vùng ngập mặn Đồng Nai, vẫn còn được thưởng thức món đặc sản nơi đây: Chem chép nướng mỡ hành thơm lừng hay chem chép nấu hạt điều ngọt lự, song ít người nghĩ rằng, dân Đồng Nai vẫn dùng các loại "xẻng" bằng gỗ đi đào hải sản này như hàng ngàn năm xưa vậy.
Trong hố khai quật, chúng tôi còn thấy một loại hiện vật gốm khá lạ nữa. Đó là một dạng bàn đập bằng gốm, giống hình cây nấm. Ngày nay, dân địa phương vẫn dùng chúng để làm gốm bằng tay mà không có bàn xoay như ngoài Bắc bộ. Họ dùng những bàn đập để đập vào xương gốm cho chắc trước khi nung. Cái công nghệ và dụng cụ làm gốm chẳng khác xưa là bao.
Có lẽ vùng đất ngập mặn có nhiều di tích độc đáo hơn cả là Giồng Cá Vồ (xã Long Hòa, huyện Cần Giờ) đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Di tích nằm trên một gò nổi nằm ven bờ một con sông nhỏ, cách cửa biển chừng 5km. Tại đây, các nhà khảo cổ đã tìm thấy gần 350 mộ chum và 10 mộ đất khá nguyên vẹn. Qua đó, ta có thể thấy cách chôn người chết bằng cách bó gối như tư thế trong bụng mẹ rồi bỏ nguyên xác vào trong chum gốm. Đó là một quan niệm tâm linh: Người chết được trở lại tư thế ban đầu trong bụng mẹ, để tiếp tục được sinh ra trong một thế giới khác với thế giới người đang sống. Và họ cũng chia của cho người chết khá nhiều. Trong các mộ có đến hàng chục khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba mấu điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh, hàng nghìn hạt chuỗi đá, vòng tay, hạt chuỗi, bùa đeo cổ bằng răng nanh thú, giáo, lao, rìu…
![]() |
| Một chiếc nồi gốm đặt trên "cà rằng" đào được trong một di tích hơn 2.000 năm ở rừng Sác. |
Từ những tư liệu khảo cổ học, chúng ta đã có thể phác họa được bức tranh lịch sử đương thời. Vùng rừng ngập mặn nói chung và Cần Giờ nói riêng đã từng là một thương cảng biển thuận tiện cho người Sa Huỳnh miền Trung cập bến giao lưu hàng hóa, đem theo cả tập tục chôn người chết trong mộ chum và nhiều đồ trang sức độc đáo. Cả một khu vực rừng ngập mặn cận biển đã có những cư dân khai hoang lập ấp, nhiều phong tục và cách kiếm tìm hải sản tự nhiên phong phú còn được gìn giữ cho đến ngày nay.
Rừng Sác là vùng đất mà tiền nhân đã dành cho hậu thế, lắm hải sản, tiện giao thông đường thủy với các miền khác trên đất nước ta và nhiều vùng đất ven biển xa khác. Nét đặc biệt của văn minh vùng rừng Sác đã dần hòa nhập với một vùng rộng lớn hơn để trở thành văn minh của quốc gia Phù Nam và Chân Lạp ở Nam bộ nước ta sau đó.
Tiềm năng du lịch rừng Sác còn quá nhiều phương diện cần được khai thác, mà dường như chúng ta vẫn chưa biết cách hay chưa hiểu rõ du khách trong và ngoài nước cần gì. Có lẽ, đã đến lúc chúng ta cần phát huy mô hình du lịch trải nghiệm trong tua du lịch rừng Sác này. Khách lãng du sẽ chèo xuồng xuyên qua rừng đước thăm những nơi ém quân xưa của chiến sĩ đặc công, tự tay mình cầm chiếc "xẻng" gỗ để đào "chem chép", tự nướng chúng với mỡ hành, rồi cùng bạn bè ngồi dưới tán lá của cây dừa nước để thưởng thức món đồng quê ngàn năm giữa rừng.









