Biên phòng - Trong những ngày này, không khí hào hùng của chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu đã sống lại qua rất nhiều câu chuyện của các cựu chiến binh năm xưa. Thật may mắn khi tôi đã từng là hàng xóm của người anh hùng lừng danh Phùng Văn Khầu, đã từng công tác cùng 4 người con của ông. Với gia đình ông, tôi là người thân thiết. Thế nhưng, tôi chưa một lần được nghe ông kể, chỉ biết về những chiến công của ông qua sách báo, nên tôi quyết định đến thăm ông để được trực tiếp nghe ông kể lại những ký ức hào hùng của một thời khói lửa năm xưa.
![]() |
| Anh hùng Phùng Văn Khầu cùng gia đình bên khẩu pháo năm xưa. (Ảnh do gia đình ông Phùng Văn Khầu cung cấp). |
Phùng Văn Khầu sinh năm 1930, dân tộc Nùng, quê ở xã Đức Hùng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Bố mẹ chết sớm, năm lên 8 tuổi, ông đã phải đi ở để kiếm ăn. Cách mạng tháng Tám thành công, năm 1946, Phùng Văn Khầu tham gia hoạt động ở địa phương, khi làm chiến sĩ liên lạc, khi làm chiến sĩ công an, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành xuất sắc. Tháng 12-1949, ông Khầu xung phong vào bộ đội. Từ đó đến năm 1954, ông đã tham gia nhiều chiến dịch lớn, đánh hàng chục trận. Chiến dịch nào, trận đánh nào ông cũng tỏ ra dũng cảm, mưu trí và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Khẩu đội trưởng, thuộc Đại đội 755, Trung đoàn 675. Khi chiến dịch mở màn, Đại đội 755 của ông làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương đóng ở Đồn Phàng (Phú Thọ). Hết đợt một chiến dịch, khi ta đã tiêu diệt được Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo, trên nhận định địch không có khả năng đánh ra hậu phương ta nữa. Ngày 18-3-1954, Đại đội 755 được lệnh lên Điện Biên Phủ tham gia chiến đấu. Đại đội biên chế 280 người, nhưng chỉ có 7 ô tô, nên khi hành quân chỉ lấy 42 người. Ngày 24 đến đồi Him Lam. Từ đây, để mang vác pháo qua 2,5km giao thông hào mà các đồng đội đã đào từ trước, 42 chiến sĩ phải làm công việc của 280 người để đưa pháo vào trận địa.
Chiều 30-3-1954, khẩu đội của ông Khầu được giao nhiệm vụ tiêu diệt 4 lô cốt địch, chi viện cho bộ binh mở cửa vào đánh chiếm đồi E1. Cấp trên cho phép bắn 30 viên, nếu còn thừa đạn thì sẽ khen thưởng, bắn quá phải chịu kỷ luật. "Nhận lệnh xong, tôi lo lắm! Ngắm bắn quả đầu tiên vào lỗ châu mai của lô cốt địch bị trượt, đạn rơi cách khoảng 10m. Tôi nhìn lại qua nòng pháo, đề nghị tăng thước tầm và thay đổi điểm ngắm. Phát bắn thứ 2, đạn chui thẳng vào lỗ châu mai. Rút kinh nghiệm phát bắn đó, tôi và khẩu đội đã bắn liền 20 phát trúng mục tiêu bằng phương pháp ngắm bắn qua nòng pháo, đánh sập cả 4 lô cốt, giúp bộ binh tràn lên chiếm gọn đồi E1 ngay trong ngày 30-3. Trận đó, chúng tôi tiết kiệm được 8 viên đạn. Sau trận đánh, khẩu đội được biểu dương. Anh em ai cũng phấn chấn, 2 ngày sau, tôi được Bác Hồi gửi tặng huy hiệu của Người. Mừng lắm, tôi đeo ngay lên ngực và đeo chiếc huy hiệu đó suốt chiến dịch Điện Biên Phủ" - Ông Khầu kể.
Theo ông Khầu, ngày hôm sau, địch phản công hòng chiếm lại đồi E1, nhưng chúng đã thất bại. Lợi dụng trời tối, đêm mồng 1 và đêm mồng 2-4-1954, Đại đội 755 đã đưa 3 khẩu pháo lên đồi E1, chiếm giữ điểm cao để yểm trợ các mũi tấn công của bộ binh. Sau khi xây dựng công sự, hầm pháo, 2 khẩu đội kia được lệnh ngụy trang kỹ, không lộ diện, khẩu đội của ông Khầu hàng ngày bắn thăm dò xuống khu vực trung tâm của địch để tìm xem hỏa điểm địch bố trí ở chỗ nào. Quân địch phản pháo lên, nên từ ngày 5 đến 17-4-1954, khẩu đội của ông đã bị thương 5 người, chỉ còn 4 pháo thủ.
Ngày 23-4-1954, bộ binh ta đã cắt đứt sân bay Mường Thanh và ngay sau đó, địch phản công hòng chiếm lại. Lúc này, ta đã phát hiện 4 khẩu pháo 105 của địch ở điểm 507, cách đồi E1 chỉ có 250m. Nhiệm vụ của 3 khẩu sơn pháo 75 trên đồi E1 là tiêu diệt 4 khẩu pháo 105 của địch bố trí ở điểm 507 đang bắn vào bộ binh ta ở sân bay Mường Thanh. Khi ta khai hỏa, thì địch dùng pháo trên xe tăng ở khu trung tâm và pháo 105 bắn vào trận địa sơn pháo 75 của ta. Sau khoảng hơn 10 phút, 2 khẩu pháo dự phòng của ta bị đánh sập, 18 đồng chí hy sinh và bị thương. Cả đại đội còn mỗi khẩu đội của ông Khầu là chiến đấu được. Bằng phương pháp ngắm bắn trực tiếp qua nòng, đã tiêu diệt được 2 khẩu pháo của địch. Lúc này, địch bắn lên rất mạnh, làm một đồng chí hy sinh và một bị thương. Đồng chí Lý Văn Pao đưa đồng đội bị thương về tuyến sau. Một mình với khẩu pháo, xót thương đồng đội, ông Khầu đã khóc. Thế nhưng, đang khóc, tự nhiên nhìn xuống ngực đeo huy hiệu của Bác Hồ, nhớ lời kêu gọi của Bác "Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm", nghĩ trong tay có khẩu sơn pháo, tại sao không làm được. Vậy là một mình ông Khầu ngắm bắn và đã tiêu diệt khẩu pháo 105 thứ ba của địch, nhưng ông cũng bị sức ép của pháo địch và ngất đi. Khi đồng đội Lý Văn Pao trở lại, ông và Pao đã diệt được khẩu pháo 105 thứ tư. Nhưng rồi anh Pao cũng bị thương vào chân, không chiến đấu được.
Sau ngày hôm đó, gọi là cả Đại đội pháo 755 chiếm giữ đồi E1, nhưng thực ra chỉ còn 1 khẩu pháo và 4 người gồm: Đại đội trưởng, Chính trị viên, liên lạc và Khẩu đội trưởng Phùng Văn Khầu. Nhưng với quyết tâm và lòng dũng cảm, họ đã chiến đấu chi viện cho bộ binh ta đến thắng lợi cuối cùng vào ngày 7-5-1954. Tính tổng cộng trong thời gian chiếm lĩnh đồi E1, với khẩu sơn pháo 75, Phùng Văn Khầu và đồng đội đã phá hủy 5 khẩu pháo 105 ly, 6 đại liên, 1 lô cốt, 1 kho đạn, diệt hàng trăm lính địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho bộ binh chiến đấu thắng lợi.
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, ông Khầu vinh dự được gặp Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc. Tháng 5-1955, ông được Quân đội cử đi dự Liên hoan Thanh niên, sinh viên thế giới lần thứ 5 tại Vác-sa-va (Thủ đô Ba Lan). Ngày 31-8-1955, Phùng Văn Khầu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Những năm tiếp theo, ông được đi học văn hóa rồi trở thành sĩ quan quân đội, tham gia nhiều trận chiến đấu ác liệt chống Mỹ, cứu nước tại Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tà Cơn, Đường 9 Nam Lào, Mậu Thân 1968, biên giới phía Bắc 1979.
Cuộc chiến xưa đã lùi vào dĩ vãng. Khẩu pháo của đơn vị ông Phùng Văn Khầu năm xưa trút lửa đạn xuống đầu thù giờ đây đang nằm ở Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. Khẩu pháo như một minh chứng nhắc nhở con cháu hôm nay và thế hệ mai sau giữ vững và phát huy truyền thống của những người đi trước. 60 năm trôi qua, khi đất nước đã hòa bình, ký ức ấy lại là bài học sống động, có ý nghĩa sâu sắc để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay.







