Biên phòng - Đối với mỗi quốc gia, dân tộc, lịch sử có vị trí cực kỳ quan trọng. Chính lịch sử đã tạo nên bản sắc, đặc điểm, tính chất của mỗi quốc gia. Lịch sử chính là chiếc gương soi giúp ta nhận biết được quá khứ, hiện tại và cả một phần tương lai. Dân tộc nào càng hiểu và càng yêu lịch sử của dân tộc mình thì dân tộc ấy càng vững mạnh, càng có "sức đề kháng" để vượt qua mọi thử thách.
"Lịch sử nước ta" được làm bằng thơ dài 236 câu theo thể lục bát, được Nguyễn Ái Quốc viết khi Người ở Cao Bằng. Tác giả chọn thể thơ lục bát dễ đi vào lòng người với những vần điệu, tiết tấu rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Nội dung tác phẩm được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn từ cội nguồn đến năm 1858, giai đoạn từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đến năm 1919, giai đoạn từ năm 1919 đến năm 1941 (Việt Minh ra đời).
Bằng những lời thơ giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc, tác phẩm điểm lại lịch sử của dân tộc Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước tới năm 1941 nhằm ôn lại truyền thống quật cường, anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc, giáo dục lòng yêu nước và cổ vũ nhân dân hăng hái, thi đua, đoàn kết tham gia cách mạng để viết tiếp những trang sử hiển hách của dân tộc. Tác phẩm đã được phát hành rộng rãi tới các cơ sở cách mạng của quần chúng.
Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc viết:
"Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn nghìn năm
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa
Hồng Bàng là tổ nước ta".
Câu thơ mở đầu như một lời nhắc nhở đối với những ai còn thờ ơ với lịch sử, với thời cuộc, với đất nước. "Dân ta phải biết sử ta", đó chính là tâm huyết cuả tác giả trước một vấn đề tưởng như ai cũng biết, nhưng thực ra, cho đến tận hôm nay, vẫn có người còn mơ hồ, lẫn lộn, thậm chí, không ít người hiểu biết lịch sử một quốc gia nào đó qua phim ảnh hơn cả lịch sử của chính dân tộc mình.
Đó là chưa kể hồi bấy giờ, dân ta còn lạc hậu, phần lớn là mù chữ thì việc hiểu biết lịch sử nước nhà không phải chuyện dễ dàng. Khác với cách tuyên truyền lịch sử một cách khô khan, khẩu hiệu, những lời thơ của tác giả rất súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu, ý tứ rõ ràng, mạch lạc. Chất liệu làm thơ được tác giả chắt lọc trong hàng trăm nghìn những sự kiện lịch sử nổi bật của dân tộc Việt Nam. Với 236 câu thơ, nhưng những trang lịch sử Việt Nam như đang hiện ra trước mắt người đọc một cách chân thực và sống động.
Chính vì mong muốn dân ta phải "tường gốc tích nước nhà", Nguyễn Ái Quốc đã kể về nguồn gốc bốn ngàn năm "Tổ tiên rực rỡ" buổi đầu với "Hồng Bàng là tổ nước ta" đến các triều đại sau này. Qua những sự tích chống xâm lược của các anh hùng dân tộc, từ "trẻ con Phù Đổng", "Hai Bà Trưng có đại tài", Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung đến Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám... Tác giả đã đánh thức lòng tự hào dân tộc của mỗi người dân đất Việt:
Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta cũng rất vẻ vang anh hùng
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên!
Gần một nửa sau của tác phẩm, tác giả đã dành để viết về lịch sử cận đại và hiện đại của dân tộc dưới ách thống trị của thực dân Pháp, sự đầu hàng của vua quan nhà Nguyễn và đặc biệt khắc họa vai trò của những người anh hùng nối tiếp cha ông đứng lên chống giặc Tây. Việc tập trung ngòi bút trong giai đoạn này là chính xác, có trọng tâm, trọng điểm, bởi nhiệm vụ trước mắt, mục đích của cách mạng là phải đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cuộc khởi nghĩa đã đẩy lòng yêu Tổ quốc lên đỉnh cao trong cuộc đấu tranh một mất, một còn:
Nam Kỳ im lặng đã lâu
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn
Sau khi khêu gợi nỗi nhục mất nước, tác giả khẳng định:
Dân ta có Hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ ràng nước Việt rạng danh Lạc Hồng.
Mục đích cuối cùng của tác phẩm "Lịch sử nước ta" hướng đến là kêu gọi tất cả những người dân Việt Nam hãy đứng lên đấu tranh giành độc lập để xứng đáng với những trang lịch sử hào hùng mà cha ông xưa đã để lại. Theo tác giả Nguyễn Ái Quốc, nhân tố cơ bản nhất làm nên thành công đó là sự đoàn kết. Người viết:
Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!
Cuối tác phẩm là mục "Những năm quan trọng" ghi lại những sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc "Trước Tây lịch", "Sau Tây lịch", kết thúc bằng mốc lịch sử (thời điểm đó có tính chất tiên đoán - ĐVT): 1945: Việt Nam độc lập.
Bằng mẫn cảm chính trị nhạy bén, bằng nhãn quan cách mạng sáng suốt, ngay từ những năm 1941, 1942, cách mạng Việt Nam và cả cách mạng thế giới còn đầy khó khăn, gian khổ, thách thức, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra một dự báo sáng suốt về thời điểm thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc mà độ chính xác đã được lịch sử chứng minh.






