Biên phòng - Tượng gỗ dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trên dãy Trường Sơn, là một trong những từ khóa cơ bản chỉ ra đời sống văn hóa tâm linh của họ. Những năm gần đây, tượng gỗ xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng việc đó không đồng nghĩa với vốn văn hóa quý báu từ bàn tay tài hoa của nghệ nhân dân gian được giữ lại và được phổ biến. Có chăng là điêu khắc gỗ được ưa chuộng vì đáp ứng thị hiếu tò mò của số đông, nhưng hàm lượng văn hóa trầm tích ẩn chứa trong đời sống tinh thần của người Tây Nguyên thì mãi mãi vẫn còn là một ẩn số.
Cùng với sự phát triển chung của các trung tâm đô thị trên vùng đất Tây Nguyên, các doanh nghiệp kinh doanh vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng mọc lên ngày càng nhiều. Nhiều chủ nhân của các dự án lớn thường đua nhau mở các trại sáng tác trong các khu du lịch. Họ mời các nghệ nhân điêu khắc tượng gỗ có tiếng của các tỉnh Tây Nguyên, bao ăn nghỉ trong khu du lịch, chi phí đi lại và thù lao.
Đổi lại, những nghệ nhân này sống ở đây một thời gian đẽo gọt tượng gỗ tập trung, trao đổi giao lưu với nhau, thi chọn ra những bức tượng đẹp nhất để trao giải thưởng. Trong thời gian các nghệ nhân lưu lại các khu du lịch, những nơi này trở thành một địa điểm tham quan khám phá vô cùng hấp dẫn đối với du khách.
Sự tính toán có phần "láu cá" của các nhà kinh doanh giải trí mang lại lợi ích kép: Lợi ích cho khu du lịch, cho các nhà điêu khắc gỗ dân gian, đồng thời lợi ích thưởng thức dành cho khách du lịch bốn phương. Sau thời gian mở trại sáng tác, các bức tượng gỗ được lưu giữ trong các vườn tượng trong và ngoài trời của khu du lịch, khiến người ta dần dà đã biết đến nhiều hơn khái niệm tượng gỗ dân gian Tây Nguyên.
Thế nhưng, không có sự bung nở nào của yếu tố văn hóa được mang ra kinh doanh lại không kèm theo ít nhiều sự làm tầm thường và méo mó đi bản sắc. Tượng gỗ Tây Nguyên trong đời sống của cộng đồng dân tộc thiểu số trên dãy Trường Sơn luôn đi kèm với đời sống tín ngưỡng và tâm linh của họ. Những nghệ nhân đẽo tượng, bản thân họ cũng chưa có ai được công nhận danh hiệu nghệ nhân này.
Phải nói họ là nghệ sĩ của đại ngàn, của bản làng mới đúng. Ai biết gọt đẽo tượng cũng xuất phát từ niềm yêu thích, truyền dạy và tự học hỏi. Ở đây, yếu tố truyền thống văn hóa kiểu làng bản gắn với rừng già rất mạnh. Người trẻ học của người già, học từ trẻ đến già mới có thể tự tin mình là người biết đẽo gọt tượng gỗ.
Vì không biết tới bất cứ một lý thuyết nào về mỹ thuật điêu khắc, nên tượng gỗ Tây Nguyên là sự mô phỏng vạn vật, đời sống. Gỗ lấy từ rừng và cũng do con mắt chọn của người đẽo tượng, bản thân súc gỗ là một độc bản, riêng có. Từ súc gỗ đó, người đẽo tượng bằng trí tưởng tượng, thế giới quan và tình cảm của họ, tạo ra tác phẩm là sự lặp lại tâm hồn, khí chất và đời sống cộng đồng. Nguyên bản, tượng gỗ Tây Nguyên chỉ được đẽo bằng một cây rựa và một cây đục.
Ban đầu đẽo sơ bằng rựa, sau đó đẽo tinh hơn bằng cây đục nhỏ, nên tượng gỗ đẽo theo lối này thường thô ráp, cứng cáp nhưng lại rất hồn nhiên. Hỏi một nghệ nhân người Cơ Tu về sự kỳ lạ của bức tượng người phụ nữ ngực trần mà ông vừa đẽo xong, bên to bên nhỏ, bên thấp bên cao, đặt trong ngôi nhà gươl của làng, ông hồn nhiên trả lời, vì thấy một bà già trong làng có dáng như vậy, việc của ông là làm sao cho giống thôi. Chất văn hóa dân gian của tượng gỗ Tây Nguyên nằm ở chỗ đó, hồn nhiên và thân thương.
"Và vì vậy, dùng máy cưa, máy mài, giấy nhám, dầu bóng để đẽo tượng gỗ Tây Nguyên là điều rất vô lý " - một nghệ nhân đẽo tượng gỗ lâu năm theo trường phái tự nhiên thổ lộ thẳng thắn. Sở dĩ có chuyện trường phái là vì trừ những nghệ nhân hiện sinh sống ở bản làng được truyền dạy kỹ thuật đẽo tượng thủ công truyền thống, thì hiện nay có số lượng không nhỏ những người công nghệ hóa, cơ giới hóa việc đẽo tượng.
Người Tây Nguyên vốn đẽo tượng để đặt ở nhà mồ bầu bạn với người đã khuất. Họ tạo ra trên mộ người chết một vườn tượng riêng, có người, có chim muông, dụng cụ lao động, sao cho người chết có đầy đủ gia đình, vật nuôi và công cụ như khi họ còn sống. Những bức tượng mô tả cảnh sinh hoạt trong buôn làng, khí chất cực mạnh, trần trụi và tư duy đơn sơ. Chúng hoàn toàn không thể được tạo ra từ những chiếc máy hiện đại, rồi lại thoa dầu, đánh bóng lên được. Chưa kể việc sưu tầm những tượng gỗ nhà mồ đã cũ của Tây Nguyên là một thị hiếu có phần lệch lạc.
Hiện nay, tượng nhà mồ Tây Nguyên đang mất dần mà kẻ lấy cắp chính là những người đi sưu tầm thu mua. Đây là sự thiếu tôn trọng đời sống tâm linh của người Tây Nguyên. "Tượng gỗ đã đặt tại nhà mồ là của người chết, lấy đi là hành vi ăn cắp" - nghệ nhân Ksor Kal, sinh sống tại Buôn Ma Thuột nói như vậy.

Nghệ nhân Ksor Hnao, danh tiếng đẽo tượng của Gia Lai từng được vô số các giải thưởng trong các cuộc thi đẽo tượng gỗ bày tỏ rằng, ông rất mừng khi ngày càng có nhiều người quan tâm đến văn hóa gốc của Tây Nguyên. Bên cạnh đó, đã có nhiều hành động để lưu giữ lại vốn văn hóa này.
Tuy nhiên, để không bị lệch hướng, bị rơi rớt đi vốn dân gian thì chính cộng đồng những nghệ nhân phải tôn trọng sản phẩm làm ra từ bàn tay của mình, tôn trọng bản sắc văn hóa mà mình đang đeo đuổi. Tôi ngắm bức tượng có tên là "Mẹ ôm con" của ông, quả thật bàn tay của người nghệ nhân này đã đạt đến mức điêu luyện. Bức tượng có nét rựa sắc lẹm, hình khối hài hòa, thần thái đầy cảm xúc.
Đinh Plinh, một nghệ nhân trẻ ở Làng Leng, xã Tơ Tung, Kbang của Gia Lai có lẽ là đại diện hiếm hoi của thế hệ hậu sinh mà chung thủy với nét rìu, nét rựa truyền thống trong kỹ thuật đẽo tượng. Bên cạnh anh không có máy cưa, máy mài chạy rè rè như các nghệ nhân khác. Tĩnh lặng tuyệt đối, bàn tay của anh khẽ gõ đủ lực để lưỡi đục trơn ngọt trên súc gỗ mít. Say mê làm việc một cách tuyệt đối và kiên nhẫn với một người trẻ như Đinh Plinh là rất hiếm.
Một trong những lý do anh hiện vẫn sống ở làng là do không gian văn hóa làng đã bảo vệ vốn văn hóa dân gian và cả tâm hồn người nghệ sĩ. Anh có một người cha hiện vẫn truyền dạy cho mình kỹ thuật đẽo tượng, có nương rẫy để lao động như bao người Tây Nguyên khác và thỉnh thoảng đẽo tượng nhà mồ thuê. Bấy nhiêu đủ hy vọng về việc bảo vệ nguyên trạng kỹ thuật đẽo tượng gỗ Tây Nguyên cùng với đời sống tình cảm, tâm linh của cộng đồng các dân tộc thiểu số sống gắn bó với đại ngàn trên dãy Trường Sơn.
Trương Thúy Hằng






