Biên phòng - Sinh ra từ nền văn hóa Khmer Nam bộ đầy bản sắc, Dù-kê được coi là một hình thức sân khấu dân gian "huyền ảo", bởi có sự kết hợp giữa lễ nghi nông nghiệp, tôn giáo với đời sống văn nghệ cộng đồng. Từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày ở vùng sông Bassắc (sông Hậu), nghệ thuật Dù-kê đã ra đời và tồn tại một cách tự nhiên như cây lúa nước mọc lên trên vùng châu thổ phì nhiêu từ thủa khai hoang, lập ấp...
![]() |
| Rất cần các cuộc hội thảo như thế này nhằm phục vụ xây dựng bộ hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận nghệ thuật sân khấu Dù-kê là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. |
Nghệ thuật Dù-kê ra đời trên cơ sở kế thừa những loại hình nghệ thuật đã có trước đó của dân tộc Khmer. Do đặc thù đời sống cộng cư ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nên loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo này đã có những ảnh hưởng bởi sự giao thoa văn hóa giữa người Khmer với người Việt và người Hoa trên địa bàn.
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, loại hình nghệ thuật Dù-kê thường được trình diễn trong các buổi lễ như: Lễ dâng bông, Tết Chôl Chnăm Thmây, lễ đua ghe ngo của đồng bào Khmer. Trong những dịp này, các đoàn Dù-kê đều tới chùa hát làm phước, hay tại địa điểm cử hành lễ để phục vụ khán giả suốt đêm. Điều đặc biệt là những đêm diễn Dù-kê luôn thu hút đông khán giả, có cả người Hoa và người Kinh cùng xem.
Nghệ thuật Dù-kê có khả năng thể hiện các đề tài cổ tích, dân gian, thần thoại, như các loại hình sân khấu kịch hát truyền thống của người Khmer khác, đồng thời, nó còn thể hiện một cách nhuần nhuyễn các đề tài nói về cuộc sống người dân trong quá khứ và hôm nay. Quá trình hình thành cũng như phát triển của sân khấu Dù-kê luôn tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo.
Trên sân khấu Dù-kê, dàn nhạc ngũ âm, dàn hợp xướng, người dẫn chuyện được biến hóa linh hoạt. Người dẫn chuyện có khi là nhân vật hề, vừa tham gia hòa quyện vào cốt truyện kịch, vừa đối thoại, giao lưu với khán giả để giao đãi kịch.
Đề tài và nội dung kịch bản của sân khấu Dù-kê rất phong phú và mang tính giáo dục cao. Các tích truyện diễn ra trên sân khấu Dù-kê, về cơ bản luôn đề cao đạo lý của con người. Vở diễn nào cũng mang tinh thần hướng thiện, ca ngợi cái tốt, cái đẹp, lên án cái ác, cái xấu. Lối diễn Dù-kê tự nhiên và rất thật, thường bắt đầu bằng một bài hát cúng tổ tiên, kế đó là hát mời các vị thần, rồi tất cả diễn viên có vai trong đêm hát ra hát chào khán giả, biểu diễn một điệu múa rồi mới bắt đầu đêm diễn.
Các nhạc cụ Khmer cổ truyền thường sử dụng trên sân khấu Dù-kê là đàn khưm, dàn nhạc pưn-pết (ngũ âm) và nhiều nhạc cụ dân tộc khác. Do được sinh ra từ cộng đồng phum, sóc nên nghệ thuật Dù-kê rất gần gũi với đời sống thường ngày. Mặc dù phải lao động ngoài ruộng rẫy suốt ngày, người dân trên địa bàn vẫn "dám" ngồi coi Dù-kê từ đêm này qua đêm khác.
Cho đến bây giờ, tại các phum, sóc ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long... rất nhiều đội Dù-kê được nhà chùa, sư sãi và đồng bào Khmer nuôi dưỡng, đùm bọc. Ngày ngày, các diễn viên vẫn cần cù làm việc ở ruộng rẫy, ao vườn, đến những ngày lễ, Tết, ngày rằm, họ lại hóa thành quân vương, hoàng hậu, hoàng tử, công nương, đi diễn giao lưu ở các nơi, có khi cả tuần, cả tháng mới về.
Bao giờ được UNESCO vinh danh?
Sở dĩ phải đặt ngay câu hỏi như vậy là vì ở Việt Nam đã có nhiều loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian được UNESCO vinh danh như Ca trù, Hát xoan, Đờn ca tài tử... và mới đây nhất là Ví, dặm. Theo đánh giá của các chuyên gia về di sản thì nghệ thuật Dù-kê, dù gắn bó chặt chẽ với lễ nghi nông nghiệp và tôn giáo nhưng rất đời thường và dung dị, do đó, công tác bảo tồn, phát triển sẽ không gặp nhiều thách thức như các loại hình nghệ thuật đài các và đòi hỏi sự tinh tế, cầu kỳ trong biểu diễn.
Do vậy, nếu có bước đi, cách làm phù hợp thì việc "tiến cử" nghệ thuật Dù-kê lên UNESCO không khó để đạt được kết quả như mong muốn.
![]() |
| Trước giờ biểu diễn Dù-kê. |
Vì thế, việc cần làm trước mắt là phải phục hồi, tái tạo lại môi trường sống cho Dù-kê, đồng thời vinh danh nó một cách xứng đáng. Đầu tiên là đi tìm những chủ nhân đích thực của loại hình nghệ thuật độc đáo này - chính là những người dân am hiểu về Dù-kê, mà ta thường gọi là những "nghệ nhân dân gian" để lưu giữ và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Đi cùng với đó là tạo môi trường sống phù hợp với Dù-kê trong cộng đồng, trong chính môi trường diễn xướng của Dù-kê.
Đó chính là khôi phục các làng nghề, các nghề thủ công truyền thống, các lễ hội văn hóa gắn với phục vụ du lịch để việc trình diễn Dù-kê được gắn với không gian sinh hoạt và môi trường lao động của cộng đồng, đồng thời, tạo được nguồn thu để duy trì Dù-kê một cách bền vững. Bên cạnh đó, cần xây dựng các câu lạc bộ, các nhóm dù-kê trong từng phum, sóc và trở thành một sinh hoạt văn hóa thường xuyên của đồng bào Khmer.
Và nên coi đây là một trong những tiêu chí để được công nhận làng, xã văn hóa. Một điều không thể thiếu, là ngay bây giờ phải bắt tay vào làm thật tốt công tác tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa, truyền thống của Dù-kê, từ đó, giúp cho người dân, đặc biệt là đồng bào Khmer có ý thức tham gia gìn giữ một cách chủ động, tích cực và sáng tạo nhằm bảo tồn, phát triển loại hình văn hóa, nghệ thuật độc đáo này.
Đối với ngành văn hóa, thể thao và du lịch các địa phương có đồng bào Khmer sinh sống, cần nghiên cứu hình thành các "Câu lạc bộ nghệ thuật sân khấu Dù-kê", về lâu dài sẽ làm cơ sở để các nhà nghiên cứu, quản lý cung cấp các luận chứng khoa học cho công tác xây dựng bộ hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận nghệ thuật sân khấu Dù-kê Khmer Nam bộ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.








