Biên phòng - Tiểu vùng Tây Phi và thực ra là toàn bộ châu Phi chẳng còn xa lạ gì với các cuộc xung đột và tranh chấp tài nguyên thiên nhiên. Các tranh chấp về kim cương ở Ăng-gô-la những năm 1980, Xi-ê-ra Lê-ôn những năm 1990, và gần đây là xung đột về dầu mỏ, khí đốt ở đồng bằng Ni-giê thuộc Ni-giê-ri-a là một vài ví dụ cho thấy các tài nguyên đã thổi bùng xung đột trên lục địa này như thế nào.
![]() |
| Nhiều mỏ dầu được Ga-na phát hiện ở ngoài khơi gần biên giới Bờ Biển Ngà. Ảnh: Internet |
Giới truyền thông gần đây đưa tin Bờ Biển Ngà, quốc gia có biên giới hàng hải với Ga-na, đã tuyên bố quyền sở hữu đối với một số khu vực của vùng biển mà Ga-na mới phát hiện dầu mỏ. Ông Cô-lin Đau-đa, Bộ trưởng Đất đai và Tài nguyên thiên nhiên Ga-na khẳng định không có tranh chấp biển với nước láng giềng và cả hai bên luôn tôn trọng biên giới, cho đến khi dầu khí được tìm thấy ở phía bên kia biên giới biển do Ga-na kiểm soát. Ông nói: "Với việc tìm thấy dầu mỏ, bỗng nhiên Bờ Biển Ngà ra tuyên bố thiếu tôn trọng đối với ranh giới mà chúng tôi vốn đều tôn trọng. Trong trường hợp này, hoặc chúng tôi hoặc nguồn dầu được tìm thấy sẽ bị ảnh hưởng."
Ông Đau-đa đã đúng trong câu nói "không có tranh chấp biển". Ga-na và Bờ Biển Ngà đã là láng giềng tốt kể từ khi cả hai cùng giành độc lập và cũng là đối tác thương mại của nhau. Chưa từng có cuộc chạm trán quân sự đáng kể nào giữa hai nước anh em này. Năm 2011, Ga-na thậm chí còn phá tan những nỗ lực của khối Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi (ECOWAS) xâm lược Bờ Biển Ngà sau các cuộc bầu cử gây tranh cãi. Tại thời điểm đó, Chính phủ Ga-na cho rằng chiến tranh là không cần thiết và nên dùng đối thoại để giải quyết ổn thỏa các tranh chấp bầu cử. Nhưng xung đột cuối cùng vẫn nổ ra và khi đó Ga-na lại trở thành nơi trú ngụ cho người tị nạn Bờ Biển Ngà.
Việc phát hiện dầu mỏ và khí đốt - cả hai đều là mặt hàng chiến lược sống còn, cần thiết cho sự thịnh vượng của nền kinh tế toàn cầu, đã làm dấy lên nhiều quan điểm ở cả hai nước. Một số quan điểm chủ chiến đang khuyến khích các chính phủ bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia của mình bằng mọi biện pháp có thể, kể cả sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng lợi ích quốc gia cần được theo đuổi một cách dân chủ và bằng con đường ngoại giao, mà không gây tổn thương đến người dân hai nước và gây nguy hiểm cho nền hòa bình mong manh ở tiểu vùng này.
![]() |
| Một binh sỹ Bờ Biển Ngà tuần tra khi đoàn xe tải dài xếp hàng chuẩn bị qua biên giới vào Ga-na. Ảnh: biyokulule.com |
May mắn thay cả Bờ Biển Ngà và Ga-na đều là những thành viên đi đầu và được tôn trọng trong ECOWAS cũng như Liên minh châu Phi, có thể dựa vào các thể chế khu vực này để dàn xếp hòa bình mọi bất đồng có khả năng phát sinh. Hơn nữa còn có khuôn khổ quốc tế gồm các nguyên tắc, quy định, quy ước, luật pháp và thể chế nhằm xác định bên nào có quyền với tài sản nào trên đất liền và dưới đáy biển. Các quy định và khuôn khổ như vậy đưa ra đầy đủ các nguyên tắc và hướng dẫn về việc xác định và giải quyết tranh chấp tại các tòa án quốc tế.
Cả Bờ Biển Ngà và Ga-na đều đã ký kết một số hiệp ước quốc tế như Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS), trong đó quy định và kiểm soát quyền lưu thông trên biển, ranh giới lãnh hải, quyền tài phán kinh tế, tình trạng pháp lý của các nguồn tài nguyên dưới đáy biển trong các giới hạn tài phán quốc gia, việc tàu tuyền qua lại các eo biển, việc bảo tồn và kiểm soát tài nguyên sống dưới biển và bảo vệ môi trường biển.
Nhiều học giả cũng cho rằng bên cạnh sử dụng thuật ngoại giao và hệ thống pháp lý quốc tế, hai nước có thể lựa chọn hợp tác: khai thác chung, phát triển chung và quản lý chung đói với (các) khu vực tranh chấp vì lợi ích của cả hai bên. Trên thế giới có nhiều ví dụ của hình thức hợp tác và quản lý chung này như giữa các nước Liên minh châu Âu (EU).
EU ra đời từ nhu cầu hợp tác lẫn nhau trong góp vốn và chia sẻ năng lượng cũng như tài nguyên khác. Tháng 5/1950, Ngoại trưởng Pháp khi đó là ông Rô-bớt Su-mân cam kết loại bỏ vĩnh viễn khỏi Châu Âu các cuộc chiến gây tổn thất lớn, các đối thủ cạnh tranh chính như Pháp và Đức nên cùng nhau sản xuất than đá và thép dưới sự quản lý của một nhà chức trách cao nhất, vì lợi ích cả cả hai nước cũng như phần còn lại của châu lục này. Cam kết và việc thông qua cam kết này đã mang lại 60 năm ổn định về chính trị và thịnh vượng về kinh tế cho các nước thành viên EU. Trước khi EU hình thành, các nước Châu Âu đã tiến hành hàng loạt cuộc chiến về vấn đề tài nguyên, trong đó có hai lần Chiến tranh thế giới mà tiếp cận tài nguyên chính là một phần lý do.
Quỹ năng lượng chung Tây Phi và Đường ống dẫn khí đốt Tây Phi chạy từ Ni-giê-ri-a đến Tô-gô, Bê-nanh và Ga-na cũng là những ví dụ điển hình về cách mà các nước có thể chia sẻ tài nguyên vì lợi ích chung. Không gì có thể ngăn cản Ga-na và Bờ Biển Ngà đi theo các hình mẫu hợp tác này. Tranh chấp biên giới trên biển có thể được giải quyết thông qua phân xử, đàm phán và hợp tác, bất kể quy mô nào.
Bên cạnh đó, hai nước nằm trong một khu vực phụ thuộc lẫn nhau với những mối đe dọa an ninh phi truyền thống chung, trong đó có các cuộc nổi dậy, nạn cướp biển, nạn buôn người và thuốc phiện, các cuộc tấn công khủng bố, sự biến đổi khí hậu và các bệnh dịch chết người như HIV/AIDS. Những vấn đề này đòi hỏi phải có sự phản ứng thống nhất, do đó chiến tranh giữa hai nước là điều không ai mong muốn.
Một yếu tố then chốt, có tính sống còn nhằm tránh mọi cuộc xung đột hoặc ngăn chặn xung đột leo thang, chính là đối thoại. Các nhà phân tích cho rằng Ga-na và Bờ Biển Ngà phải thiết lập các kênh đối thoại cấp bộ trưởng và có thể là cấp tổng thống. Các đường dây nóng tương ứng cần được bố trí ở cấp độ quân sự giữa người đứng đầu quân đội hai nước, nhằm nhanh chóng khôi phục lòng tin trong trường hợp các cuộc trạm chán xảy ra giữa quân đội hai bên ở biên giới.
Tuy nhiên, nếu hai nước lựa chọn chiến tranh thay vì đối thoại thì điều quan trọng là chỉ ra cho họ những hệ quả của việc tham gia vào một cuộc cạnh tranh nguy hiểm và mâu thuẫn không ngừng. Chẳng hạn, điều đó có thể đẩy Tây Phi trở lại thời kỳ yếu kém về đầu tư và tăng trưởng kinh tế, lạm phát cao, các khoản nợ nước ngoài khổng lồ, dân chúng ly tán và nghèo khổ. Sự mạo hiểm quân sự không cần thiết không chỉ dẫn tới thương vong về người mà còn cả phí tổn quân sự lớn, làm kiệt quệ nền kinh tế và có thể phát sinh những món nợ nước ngoài kếch xù, mà việc chi trả sẽ tác động tiêu cực tới hiệu suất của cả hai nền kinh tế.
Từ góc nhìn khu vực, cuộc chiến giữa hai nước này sẽ ảnh hưởng bất lợi tới hiệu quả kinh tế của toàn bộ tiểu vùng, đặc biệt là các nước láng giềng không có biển như Buốc-ki-na Pha-xô, Ma-li và Ni-giê, vốn phụ thuộc vào hệ thống vận tải của hai nước này cả về xuất khẩu lẫn nhập khẩu. Nói cách khác, thương mại khu vực, sự tăng trưởng kinh tế cũng như an ninh và sự ổn định kinh tế có thể bị gián đoạn và khu vực cần hàng thập kỷ để phục hồi. Đó là lý do cần nghiêm túc xem xét áp dụng cách giải quyết thông qua đối thoại, ngoại giao, phân xử và hợp tác.









