Biên phòng - Thực hiện Nghị quyết Trung ương V khóa VIII về "Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" và Quyết định 124/2003/QĐ-TTg ngày 17-6-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, những năm qua, UBND tỉnh Lào Cai đã đề ra nhiều giải pháp, đề án để bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn, trong đó có người Bố Y.
![]() |
| Trình diễn trang phục Bố Y tại cuộc thi trình diễn trang phục truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam lần thứ nhất năm 2011. Ảnh: CTV |
Về thôn Lao Hầu, xã Thanh Bình, huyện Mường Khương, hỏi thăm bà Lồ Lài Sửu, dân tộc Bố Y vừa được Nhà nước xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2015, bà con chỉ dẫn rất tận tình với một niềm kính trọng đặc biệt với người phụ nữ đã khổ công sưu tầm, truyền dạy những bài ca dao, dân ca cùng làn điệu múa dân gian truyền thống của người Bố Y suốt 20 năm qua.
Đã từng gặp bà trong một lần bà xuống Hà Nội dự Hội nghị - Hội thảo "Giải pháp bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của 16 dân tộc thiểu số có dân số dưới 10.000 người", do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức nên cuộc trò chuyện với bà diễn ra khá rôm rả.
Bà bảo: Người Bố Y có di sản văn hóa truyền thống rất phong phú thông qua những phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tín ngưỡng, lễ hội, văn hóa ẩm thực, trang phục... song đang dần bị mai một trước sự phát triển của cuộc sống hiện đại. Ý thức được điều này và cũng xuất phát từ niềm yêu thích dân ca, dân vũ nên từ năm 1995, tôi đã chủ động sưu tầm những bài dân ca Bố Y từ những bậc cao niên để vừa hát, vừa dịch sang tiếng Việt.
Song, công việc sưu tầm thực sự hiệu quả kể từ khi tôi tham gia làm cộng tác viên cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai. Với sự cộng tác này, tôi thường xuyên cung cấp các tài liệu về phong tục tập quán của dân tộc mình cho cán bộ nghiên cứu của Sở và Trung ương, nhờ đó, nhiều phong tục tập quán và những bài dân ca của người Bố Y đã được phục hồi và bảo tồn trong đời sống hiện đại.
Ngoài ra, tôi còn cùng với các ban, ngành địa phương tổ chức các chương trình giao lưu văn nghệ để quảng bá bản sắc văn hóa của người Bố Y và chăm lo truyền dạy những bài dân ca, dân vũ cho chị em và các cháu yêu thích các điệu múa truyền thống dân tộc.
Mặc dù đã đóng góp nhiều công lao trong việc bảo tồn vốn văn hóa truyền thống của dân tộc mình, nhưng bà vẫn không ngừng tìm tòi, cống hiến. Điều bà đau đáu nhất là niềm khát khao tìm lại tiếng nói của người Bố Y ở Lào Cai khi không mấy người Bố Y bây giờ mặn mà với tiếng mẹ đẻ.
"Để làm được điều này, Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương cần có cơ chế hỗ trợ kinh phí bảo tồn cho các dân tộc có số dân dưới 10.000 người. Qua đó, giúp đồng bào các dân tộc cải thiện đời sống vật chất, giúp họ gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình trước nguy cơ mai một" - bà Lồ Lài Sửu chia sẻ.
Cũng đồng quan điểm với bà Lồ Lài Sửu, bà Nguyễn Thị Tố Uyên, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai cho rằng, giá trị văn hóa dân tộc không chỉ là di sản, mà còn là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, song bảo tồn bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai nói chung và người Bố Y nói riêng trước làn sóng văn hóa ngoại lai xâm nhập thì cần phải có hệ thống các giải pháp mang tính khả thi.
Các giải pháp mà bà Nguyễn Thị Tố Uyên đề cập đến chính là Nghị quyết Trung ương V khóa VIII về "Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" và Quyết định 124/2003/QĐ-TTg ngày 17-6-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam; cũng như một hệ thống các kế hoạch, đề án mà Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành như: Đề án "Phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015"; kế hoạch kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, giai đoạn 2011-2015.
Trên cơ sở đó, đến nay, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã tiến hành kiểm kê 500 thôn, làng có người dân tộc sinh sống; lập được 15 hồ sơ khoa học đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và 12/15 hồ sơ khoa học này đã được công nhận (từ năm 2012-2020). Tết Sử giề pà (lễ tạ ơn trâu) của người Bố Y, xã Thanh Bình, huyện Mường Khương được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2013.
Lễ tạ ơn trâu là cái Tết lớn trong năm của người Bố Y, song đã bị mai một dần theo năm tháng nên khi được công nhận là di sản văn hóa, người dân Bố Y ở Thanh Bình đã có ý thức bảo tồn lễ hội này từ việc chuẩn bị các hiện vật, nghi thức tắm trâu, đóng góp lễ vật cúng tại miếu thờ đến việc diễn lại các tích trò trâu thần giúp người tìm ra vùng đất cư trú, canh tác; các hình thức sinh hoạt văn hóa... thu hút đông đảo người dân tham gia.
Bên cạnh đó, Sở còn sưu tầm, xuất bản 2 tập "Văn hóa dân gian người Bố Y", "Văn hóa ẩm thực người Bố Y", quay phim, chụp ảnh phục dựng lễ hội cầu mùa, lễ cưới, lễ nhảy lửa, Tết Sử giề pà của người Bố Y...
Gắn bảo tồn với phát triển văn hóa truyền thống
Với hàng loạt các hoạt động, giải pháp tích cực để khơi dậy, bảo tồn và phát huy vốn di sản đặc sắc của các dân tộc thiểu số, tỉnh Lào Cai đã "gặt hái" được một số thành công nhất định khi phục dựng, bảo tồn nhiều lễ hội truyền thống đã bị mai một trong đời sống của đồng bào các dân tộc. Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng; phong trào văn hóa, văn nghệ cơ sở phát triển mạnh, việc khai thác sử dụng các làn điệu dân ca, dân vũ để dàn dựng, cải biên được chú trọng... Qua đó, Lào Cai đã xây dựng được một diện mạo văn hóa mới, phong phú giàu bản sắc dân tộc.
Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Tố Uyên, kết quả đạt được trong công tác bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc nói chung và người Bố Y nói riêng của Lào Cai những năm qua là rất đáng tự hào, song thực tế đang đặt ra một đòi hỏi cấp thiết mà tỉnh Lào Cai cần phải đi sâu nghiên cứu chính là việc gắn bảo tồn bản sắc văn hóa với phát triển, vươn lên xóa đói giảm nghèo trong đồng bào các dân tộc.
Đặc biệt, trong bối cảnh người Bố Y sống xen kẽ với các dân tộc khác nên sự hòa nhập và tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ, làm thay đổi nhận thức cũng như tri thức văn hóa truyền thống của đồng bào. Đây chính là nguyên nhân khiến vai trò của người già không được coi trọng như trước, khiến lớp nghệ nhân không mặn mà với việc trao truyền, hướng dẫn cho lớp trẻ những giá trị văn hóa mà họ đang nắm giữ, làm cho bản sắc văn hóa của người Bố Y cứ mai một dần theo năm tháng.
Hiện nay, trừ người Bố Y sống thành bản độc lập vẫn giữ được vốn văn hóa truyền thống, còn những làng người Bố Y sống xen kẽ với các dân tộc khác đã có những thay đổi rõ nét trong đời sống văn hóa. Cùng với sự biến đổi về kiến trúc nhà ở, nhiều người dân Bố Y trong quá trình giao thương buôn bán, làm thuê bên kia biên giới cũng đã “bỏ” tiếng mẹ đẻ để chuyển sang sử dụng tiếng Quan Hỏa (ngôn ngữ thông dụng ở vùng biên), khiến nguy cơ mất tiếng Bố Y đang dần thành hiện thực.
Thậm chí, người Bố Y cũng từ bỏ trang phục truyền thống do chi phí làm ra quá cao. Tuy vậy, vẫn còn những tín hiệu đáng mừng là người Bố Y hiện giữ được các tập tục hương ước, lễ nghi truyền thống trong cưới xin, tang ma với một số thay đổi để phù hợp với cuộc sống hiện tại.
Để bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc nói chung và người Bố Y nói riêng trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, thiết nghĩ các cấp, các ngành cần tăng cường công tác thông tin đại chúng, hoàn thiện hệ thống thể chế và các thiết chế văn hóa; chú trọng đầu tư, sưu tầm, khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể; duy trì tổ chức các lễ hội truyền thống, quan tâm đến nghệ nhân và tạo điều kiện mở các lớp truyền dạy cho thế hệ trẻ.
Đồng thời, gắn bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể với phát triển du lịch; hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị văn hóa để nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa cho đồng bào các dân tộc thiểu số.







