Biên phòng - Mặc dù Bác Hồ chưa một lần đến mảnh đất Tây Nguyên nhiều người dân Tây Nguyên cũng chưa một lần được gặp Bác mà chỉ gặp Bác trong lời ca tiếng hát hoặc qua lời kể của người khác. Nhưng hình ảnh của Bác vẫn luôn gần gũi, thân thương và in đậm trong trái tim của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Đáp ứng lòng mong mỏi của các thế hệ cán bộ và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, công trình tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên được Đảng, Nhà nước đồng ý cho thực hiện. Sau hơn 2 năm triển khai xây dựng, đến nay công trình đã hoàn thành trong niềm vui khôn xiết của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai.
Bác Hồ trong lòng người dân Tây Nguyên
Sinh thời, Bác Hồ chưa một lần vào thăm đồng bào miền Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng nhưng với niềm mong muốn cháy bỏng của Người trước lúc đi xa là được vào thăm miền Nam, nhưng do đất nước đang còn chiến tranh chia cắt, Bác tuổi cao sức yếu nên chưa thực hiện được. Song miền Nam luôn ở trong trái tim của Bác và Bác luôn ở trong trái tim của nhân dân miền Nam. Nhớ lại ngày ấy, cách đây 66 năm, vào ngày 19/4/1946, Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam, một sự kiện chính trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với các dân tộc thiểu số Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại Pleiku, tỉnh Gia Lai. Đại hội đã vinh dự đón Thư của Bác Hồ với những lời dạy bảo ân cần và vô cùng sâu sắc: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”.
![]() |
Một tiết mục văn nghệ tại lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên. Ảnh: TTXVN |
Giờ đây Bác đã đi xa, nhưng những lời thư và hình ảnh của Bác vẫn sống mãi với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn thành kính, tin tưởng và giành cho Bác những tình cảm yêu quý và kính trọng nhất. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Pleiku, tỉnh Gia Lai là đáp ứng nguyện vọng thiết tha của nhiều thế hệ cán bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai.
Ngày 3/10/2010, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên được khởi công xây dựng. Với mẫu tượng Bác Hồ đứng một mình trong tư thế đang giao tiếp với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tay phải Bác giơ lên vừa phải, khoan thai, dung dị, thể hiện phẩm chất cao quý, vĩ đại nhưng rất gần gũi, bình dị của Người. Sau hơn 2 năm triển khai xây dựng, đến nay công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên đã hoàn thành trong niềm vui khôn xiết của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai.
Công trình thế kỷ với nhiều kỷ lục
Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong một quần thể các kiến trúc có diện tích 12,5ha. Tượng Bác được làm bằng đồng tấm dày 5 ly, theo công nghệ ép tạo hình và hàn, là công nghệ mới lần đầu tiên thực hiện ở Việt Nam; tượng cao 10,8m, trọng lượng 16 tấn; bệ tượng cao 4,5m, kết cấu móng bê tông cốt thép khoan cọc nhồi, ốp đá tự nhiên. Kết cấu tượng và bệ tượng được các nhà khoa học tính toán rất kỹ, công trình có thể chịu được động đất 7 độ rich te, gió xoáy cấp 12 và nhiệt độ đến 900C không bị biến dạng.
Phía sau tượng Bác là bức Phù điêu, chỗ cao nhất 11m, rộng 58m, diện tích 600m2, bằng chất liệu đá tự nhiên của Thanh Hoá, với trọng lượng trên 1.000 tấn, được đặt trên bệ cao 1,5 m. Phía trước bên phải Quảng trường là tháp đá bazan có chiều cao 12m, gồm 54 trụ đá bazan tự nhiên, biểu tượng đại đoàn kết của các dân tộc Việt nam. Phía trước bên trái Quảng trường là Thạch thư Bác Hồ bằng tảng đá hoa cương cao 6m, rộng 3,5m, dày 2,5m, mặt trước khắc Thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku ngày 19/4/1946. Hai bên sân lễ đài là hai dàn cồng chiêng gồm các chiêng bằng, chiêng núm là biểu tượng của Không gian Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản phi vật thể của nhân loại. Phía sau Phù điêu là ngọn núi màu xanh với các loại cây cỏ được mô phỏng theo dáng núi Hàm Rồng là ngọn núi thiêng cao nhất ở cao nguyên Pleiku. Phía trước tượng Bác là cột cờ cao 25m, với lá Quốc kỳ trên 40m2. Tượng Bác nhìn về hướng Đông Nam, trước mặt là quảng trường có diện tích 23.823m2 với 205 ô cỏ.
Tổng thể kiến trúc của tượng đài, quảng trường, cùng với Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, Bảo tàng cổ vật và tượng đài Anh hùng Núp đã tạo nên một quần thể lịch sử, văn hoá, kiến trúc, mỹ thuật hoàn chỉnh của tỉnh.
Đây là một công trình sử dụng phần lớn vật liệu sẵn có của địa phương và huy động được sự đóng góp của toàn xã hội. Tổng kinh phí đầu tư cho công trình là 230 tỷ đồng, gồm các hạng mục: Tượng Bác, bức phù điêu, sân lễ đài, xây dựng quảng trường, làm đường, vỉa hè, tháp đá, thạch thư, 2 dàn cồng chiêng, các ki ốt hình bát giác, đắp đồi, trồng các loại cây, hoa, cỏ, hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống cấp, thoát nước… Trong đó, ngân sách Nhà nước đầu tư 198 tỷ đồng, huy động đóng góp, ủng hộ của các cơ quan, ban ngành, địa phương, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài tỉnh 32 tỷ đồng.
Với ý thức xây dựng công trình cho nhân dân nên từ quy hoạch, thiết kế đến xây dựng đều tính đến việc phục vụ nhân dân. Nơi đây là địa điểm tổ chức các sự kiện chính trị, văn hoá, lịch sử quan trọng của tỉnh; là nơi vui chơi hàng ngày của nhân dân. Từ các lối đi đến các bậc tam cấp, các bó vỉa, các viền bồn hoa, gốc cây, các đôn đá đều là nơi cho mọi người có thể đi dạo và ngồi nghỉ; có các ki ốt bán hàng lưu niệm, chụp ảnh cho du khách, có nơi giải khát, đánh cờ, ngắm cảnh, có đường đẩy xe lăn cho người tàn tật đến với Bác; có nơi cắm trại cho các cháu thanh thiếu niên, học sinh...
Trao đổi với chúng tôi, ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai phấn khởi cho biết: “Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh nhà thật vinh dự, tự hào được vui đón Bác về với Gia Lai. Với một công trình văn hoá đầy ý nghĩa như thế này, chúng tôi thật trân trọng và coi đây là báu vật của tỉnh, sẽ thường xuyên nâng niu, gìn giữ, phát huy hết giá trị, ý nghĩa của công trình vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, vì sự nghiệp phát triển một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh để cho công trình trường tồn, sống mãi với thời gian”.
Cũng theo ông Phạm Thế Dũng: “Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên vừa hoàn thành không những là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh được Hội đồng nghệ thuật Trung ương đánh giá cao, mà công trình đã được Bộ Xây dựng công nhận công trình đạt Huy chương Vàng chất lượng cao ngành xây dựng năm 2012; được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận công trình đạt 3 kỷ lục Việt Nam đó là: Bức tượng Bác Hồ được làm bằng đồng lớn nhất Việt Nam; Bức phù điêu bằng đá lớn nhất Việt Nam và Dàn cồng chiêng Tây Nguyên được đúc bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Bên cạnh đó, công trình còn được Hội Đá quý Việt Nam công nhận 2 danh hiệu: Tảng đá hoa cương khắc bức thư Bác Hồ gửi đồng bào các dân tộc Tây Nguyên ngày 19/4/1946 nặng nhất Việt Nam và Tháp đá biểu tượng Đại đoàn kết các dân tộc lớn nhất Việt Nam”.
Một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh
Theo đánh giá của các chuyên gia đầu ngành của Hội kiến trúc, xây dựng, nghệ thuật, điêu khắc... của Việt Nam và nhiều cán bộ cấp cao của các Bộ, ngành, địa phương thì công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Các hạng mục của công trình được thực hiện bằng lao động trực tiếp của con người. Từ hòn đá đến cây xanh, từ lối đi đến ô cỏ, bồn hoa, bậc đá, nét hoa văn, hình dáng, tầm vóc của công trình là sự quy tụ, là kết tinh của tài năng, trí tuệ, sức sáng tạo và bao tâm huyết của các nhà khoa học, của các hoạ sỹ, nhà điêu khắc, nhà nghiên cứu văn hoá, lịch sử, của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, UBTƯMTTQ Việt Nam, các Ban, Bộ, ngành Trung ương; của các đồng chí lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ, của các nghệ nhân, già làng của tỉnh; của những khối óc sáng tạo và bàn tay lao động cần cù, tài hoa của các kỹ sư, nghệ nhân, của những nguời thợ; là trái tim, tình cảm gửi gắm tất cả vào công trình kính dâng lên Bác Hồ muôn vàn kính yêu; là trách nhiệm đối với Đảng, đối với Bác Hồ, đối với quê hương, đất nước, đối với sự trường tồn của Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, sự trường tồn của những giá trị, bản sắc văn hoá Việt nam, văn hoá Tây Nguyên.
Công trình là nơi giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống, lịch sử cho thế hệ trẻ, cũng là nơi giáo dục lòng yêu thiên nhiên, ý thức cộng đồng, ý thức bảo vệ môi trường sống cho mọi người; là vườn bách thảo với nhiều loại cây cỏ và nhiều vật liệu xây dựng độc đáo của địa phương… Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên mang ý nghĩa sâu sắc về chính trị, tư tưởng, lịch sử và văn hoá, là món quà của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, UBTƯMTQ Việt Nam dành cho Tây Nguyên, thể hiện tấm lòng của Đảng, Bác Hồ đối với Tây Nguyên và tấm lòng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu







