Biên phòng - Tôi đến Làng Hữu Nghị (trực thuộc Hội Cựu chiến binh Việt Nam) đóng tại xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội vào một chiều cuối tháng 7, đúng lúc 28 thương, bệnh binh của tỉnh Thái Bình được chuyển đến điều dưỡng tại đây. Trong số 28 thương, bệnh binh đó, có duy nhất một người phụ nữ tóc đã điểm màu mây, nét mặt u buồn. Chị là Phạm Thị Lanh, thương binh hạng 3/4, trú ở xã Song An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
![]() |
| Chị Lanh mang đầy những vết thương trên cơ thể. |
Chị Lanh sinh năm 1950, từng là thanh niên xung phong thời kỳ chống Mỹ. Hiện, chị sống với người chị gái là Phạm Thị Tuất - vợ anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phước ở quê nhà Thái Bình. Cả hai chị em đều không có con cái, sống nương tựa vào nhau. Khi tôi hỏi, tại sao khi xuất ngũ chị không lập gia đình mà lại về ở với chị gái thì chị Lanh bưng mặt khóc. Chị khóc như thể đã kìm nén nỗi đau từ bao năm nay, đến giờ mới "bung" ra được. Lấy khăn tay lau nước mắt, chị vén áo, quần cho tôi xem những vết sẹo chi chít trên người. Trước mắt tôi là một vết sẹo lớn hõm sâu giữa ngực, là vết mổ dài cắt ngang sườn người phụ nữ, là đôi vai với những vằn vệt ngang dọc, là đôi chân lỗ chỗ những vết thâm.
Và tôi ôm chầm lấy chị như thể chị là một người thân trở về sau cuộc chiến tranh khốc liệt với những vết thương chưa lành trên cơ thể. Rồi chị kể cho tôi nghe về tuổi 15 nhiệt huyết viết đơn tình nguyện tham gia chiến trường. Về những lần trắng đêm phá mìn, làm cọc tiêu thông đường cho xe qua ở cầu Hàm Rồng, núi Nhồi (Thanh Hóa). Về những trận chiến ác liệt ở những cung đường chiến lược như đường 12A lịch sử, đường 20 Quyết thắng ở mảnh đất gió Lào, cát trắng Quảng Bình.
Năm 1968, Mỹ ngày đêm rải bom, bắn phá tuyến đường 20 quyết thắng đoạn qua ngầm Ta Lê (Quảng Bình) nhằm cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam ruột thịt. Trong khi đang lấp hố bom, san đường, chị bị những mảnh bom găm vào ngực, vào sườn... Đồng đội ở C816, Trung đoàn 81, Đoàn 559 phải xé áo quấn quanh người chị để cầm máu. Sau đó, chị được chuyển về Binh trạm 14 điều trị viết thương. Mất 41% sức lao động, xếp thương binh hạng 3/4, chị được xuất ngũ về quê.
Ngày hòa bình lập lại, hòa chung với niềm vui của cả nước, chị cũng có niềm vui cho riêng mình. Chị quen và đem lòng yêu một chàng trai đất mỏ, sau một thời gian tìm hiểu, hai người quyết định gắn bó cả cuộc đời với nhau. Một đám cưới đơn sơ được tổ chức vào năm 1976 với sự chúc phúc của hai gia đình, bạn bè, đồng đội.
Năm 1977, chị mang bầu đứa con đầu lòng trong sự mong mỏi của gia đình nhà chồng, bởi chồng chị là con trai duy nhất trong gia đình. Cuối năm đó, Bệnh viện Hòn Gai, tỉnh Quảng Ninh đón nhận một ca sản chưa từng thấy. Khi đứa trẻ được sinh ra, cả y tá và sản phụ đều ngất lịm trước hình hài đứa bé. Đó là trường hợp sản phụ Phạm Thị Lanh. Vợ chồng chị đau đớn đến tột cùng vì đứa con đầu lòng không được thành người. Dù rất sợ, nhưng chị tự trấn an tinh thần rằng, đó chỉ là chuyện không may.
Sau đó một thời gian, chị mang thai lần thứ hai với hy vọng con sẽ ở lại với mình lành lặn và thông minh. Nhưng lần này cũng giống như lần trước, đứa con lại dị dạng và bỏ anh chị đi khi chưa kịp cất tiếng khóc chào đời. Lạ lùng trước trường hợp này, các bác sĩ đã yêu cầu chị làm các xét nghiệm và chị nhận được lời khuyên từ họ rằng, không nên sinh nở thêm lần nào nữa tránh ảnh hưởng tới sức khỏe, tinh thần vì chị đã bị nhiễm chất độc dioxin/da cam. "Tôi không tin những gì mình nghe thấy, đầu óc quay cuồng. Những chiếc máy bay Mỹ rải chất gì đó như sương mù lên những cánh rừng chúng tôi đóng quân và những hàng cây trụi lá hiện về trước mắt tôi" - Chị Lanh nhớ lại.
Chị cho biết, hồi còn ở chiến trường, những nữ thanh niên xung phong ai cũng có một ước mơ nghề nghiệp và một mái ấm cho riêng mình. Những lúc nghỉ ngơi, các chị thường ngồi chụm đầu lại với nhau nói về mẫu người chồng tương lai của mình và mơ một ngày sẽ được tự tay nấu cho chồng, cho con những món ăn ngon nhất. Cứ ngỡ, chị Lanh đã chạm tay vào ước mơ của một thời con gái, vậy mà giờ đây chị phải ngậm ngùi đầu hàng trước số phận.
Đứng trước áp lực phải có con nối dõi tông đường cho gia đình nhà chồng, chị Lanh như sống trong địa ngục, suốt ngày quẩn quanh với những trăn trở, suy tư. Nhiều khi nghĩ quẩn, chị tự trách bản thân mình vì đã không sinh cho gia đình nhà chồng một đứa con lành lặn. Sau nhiều đêm thức trắng đấu tranh tư tưởng, chị quyết định, tìm cho chồng một người vợ mới để giúp chị làm tròn đạo hiếu với ông bà, tổ tiên. Chị chạy khắp huyện tìm cho chồng một người vợ nết na, hiền thục. Rồi chị lặng lẽ thu xếp quần áo, đồ đạc trở về quê ngoại với những vết thương lòng.
"Nhiều khi chồng về tìm, nhưng tôi tránh mặt vì muốn chồng toàn tâm toàn ý chăm sóc người vợ mới và 2 đứa con. Còn tôi thì sao cũng được..." - Chị Lanh nói mà như khóc. Vài năm trở lại đây, có nhiều nhà hảo tâm tìm tới ủng hộ tiền của để chị và người chị gái sống cùng vơi bớt phần nào khó khăn trong cuộc sống. Nhưng chị từ chối tất cả và xin nhường lại cho những đồng đội còn gặp nhiều khó khăn hơn.
Chị bảo, từ ngày "đường tình chia đôi ngả", chị sống có phần khép kín hơn, ít khi nói về những chuyện của quá khứ. Hôm nay là một ngày ngoại lệ khi chị chia sẻ về những điều thầm kín nhất trong lòng, về giấc mơ một gia đình hạnh phúc còn dang dở, về sự hy sinh, chịu đựng rất con người để làm tròn đạo hiếu một người con dâu.








