Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 07:32 GMT+7

Giải mã những bí ẩn xung quanh thành nhà Hồ

Biên phòng - Thành nhà Hồ rất đẹp, chẳng thế mà được phong làm di sản thế giới. Thành nhà Hồ lại còn chất chứa nhiều bí ẩn lịch sử mà khảo cổ học đang từng bước giải mã.

Theo sử sách, thành nhà Hồ được xây vẻn vẹn trong thời gian 3 tháng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Vào năm Đinh Sửu (1397),  dưới triều vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly đã sai người xem đất và đo đạc vùng An Tôn (Thanh Hóa), đắp thành, đào hào, lập nhà tông miếu, dựng đàn xã tắc, mở đường phố. Công việc từ tháng Giêng đến tháng 3 thì hoàn tất. Đến tháng 11 thì vua Trần đã đóng đô ở đấy. 3 năm sau, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, lập triều đại mới và ngôi thành đá này được gọi là thành Tây Đô, tức thành nhà Hồ (hiện ở huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) như dân tình quen gọi.

gwfq_21a-1.jpg
Cửa Nam của thành nhà Hồ.

Điều bí ẩn nhất chính là ngôi thành, "trơ gan cùng tuế nguyệt" suốt hơn 600 năm mà vẫn sừng sững. Các khối đá nặng hàng chục tấn cứ xếp đè lên nhau, không cần mạch vữa gì cả mà vẫn khít. Đá lấy ở đâu và người xưa xếp chúng lên nhau để làm tường thành bằng cách nào? Nay thì các nhà khảo cổ đã tìm được mỏ đá ở ngay chân núi An Tôn (làng Phù Lưu, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc), cách thành nhà Hồ khoảng 3km.

Nơi này còn nhiều tảng đá có dấu đục đẽo, nhiều mảnh dăm đá văng ra tạo thành lớp dày. Vấn đề cần đặt ra là, các tảng đá này được chuyển đến xây thành bằng cách nào? Có ý kiến cho rằng, người xưa chuyển đá đi đường vòng qua một đoạn sông Mã, chở đá bằng bè. Nhưng còn đoạn đường từ bờ sông vào thành (?). Rất có thể phải dùng sức voi, vì thời đó, voi khá nhiều, vừa dùng làm sức kéo, vừa để tham gia đánh trận. Cũng có thể dùng hệ thống con lăn làm bằng gỗ, nhưng đến nay không còn dấu tích? Lại còn chồng tảng đá nọ lên tảng đá kia, có đến 11 hàng đá tảng chồng nhau làm nên cổng thành cửa Nam.

Có giả thiết cho rằng, chắc là họ phải dùng đất đắp nghiêng để vần từng tảng đá xếp chồng lên nhau, sau đó phá các ụ đất đi chỉ còn lớp thành như kinh nghiệm nhiều nơi trên thế giới trong thời cổ đại đã làm. Dẫu sao đó chỉ là giả thiết. Thực tế nói trên phản ánh một điều chắc chắn là, người xưa rất kỳ công và khá thông minh trong điều kiện chưa có máy móc hiện đại. Mà kỳ tích này diễn ra chỉ trong vài ba tháng, phải huy động khá nhiều người.

Đến nay, thì người ta biết được, những viên gạch tham gia dựng thành và các lâu đài ở đây đã được người xưa lưu bút và người nay giải mã: Đó là các chữ tên làng xóm khắp vùng: Kẻ Nưa, Hoàng Tranh, An Tôn Thượng, Như Lai, Cổ Lôi, Đào Xá… chủ yếu nằm trong xứ Thanh xưa. Người xứ Thanh đã đồng loạt nổi lửa lò nung gạch và đóng góp nhân lực chủ yếu để khai thác đá, xây dựng thành nhà Hồ. Đây cũng là quê gốc của Hồ Quý Ly. Đất phát tích của Tam Vương, Nhị Chúa (vua Hồ Quý Ly, vua Lê Lợi, vua Nguyễn, chúa Nguyễn và chúa Trịnh). Mà Thanh Hóa đã hai lần được chọn làm kinh đô chính là ở thành nhà Hồ và sau đó là Lam Kinh (thời Lê Lợi), bên cạnh Kinh đô Thăng Long.

Phía bên trong thành nhà Hồ, sử sách đã chép lại là có cung Nhân Thọ của Thượng hoàng Hồ Quý Ly, điện Hoàng Nguyên của Hoàng đế Hồ Hán Thương, cung Phủ Cực, Đông Cung, Đông Thái Miếu, Tây Thái Miếu, đàn Xã Tắc… Hiện nay, các lâu đài này đã chìm sâu trong lòng đất là địa chỉ cho những cuộc khai quật khảo cổ tương lai hứa hẹn nhiều bí ẩn còn ở phía trước, như những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc dạng Hoàng thành Thăng Long.

Khi khai quật một phần thành nhà Hồ, các nhà khảo cổ học đã tìm được rất nhiều các viên đạn đá nơi đây, hình tròn, có đường kính khoảng 20-25cm. Lúc đầu, nhiều người nghĩ rằng, đây là các bi đá giống một dạng con lăn để đặt các tảng đá trong khi di chuyển. Về sau, một giả thiết khác thuyết phục hơn: Những viên đạn này để lắp vào máy bắn đá, đặt trên mặt thành để sát thương quân địch.

Các cuộc khảo cổ thành nhà Hồ còn cho thấy, đây là một ngôi thành nằm trong quần thể kiến trúc: Ngoài thành còn có hào nước vây xung quanh, còn có lũy đất che chắn vòng ngoài, thường được gọi là La Thành, rộng gấp vài lần chu vi ngôi thành đá. Một quần thể kiến trúc nữa trên núi Đốn Sơn là đàn Nam Giao, cách thành nhà Hồ khoảng hơn 2km. Khi xây đàn này bằng đá hộc, người xưa cũng cúng lễ nhiều, lại có cả việc chôn một con trâu vào chân tường của đàn, có thể liên quan đến một tục lệ hiến tế người hay vật nuôi hoặc yểm bùa cho những công trình nhiều tính chất tâm linh như thế.

Các nhà khảo cổ đã đào được một con đường Hoàng gia lát gạch, vốn đã bị chìm xuống lòng đất hàng trăm năm, nay được phục nguyên. Con đường này còn có tên là trục Hoàng Đạo, nối liền cửa Nam thành nhà Hồ với đàn Nam Giao. Biết bao lần Hồ Quý Ly và các quý tộc, vương tôn, công tử dạo bước trên con đường gạch này.

Triều đại nhà Hồ kéo dài có 7 năm (1400-1407), đã có nhiều cải cách cấp tiến trong xã hội Việt Nam bấy giờ như in tiền giấy thay cho tiền đồng, chế độ hạn điền, khai hoang lập ấp, xây dựng con đường "thiên lý", tương tự đường quốc lộ 1A bây giờ vào tận Hóa Châu. Đáng chú ý là thời kỳ này tiến hành cải cách chế độ thi cử, chọn người thực tài. Ngay năm đầu lên ngôi (1400), Hồ Quý Ly đã mở khoa thi Thái Học Sinh vào mùa thu, tháng 8, chọn được 20 người tài trong nước. Chính Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc là một trong số 20 người đỗ trong khóa này.

f97u_21c-1.jpg
Mô hình giả định máy bắn đá.

Có lẽ, những năm tháng lều chõng đi thi trong thành nhà Hồ, Nguyễn Trãi đã đánh giá đúng Hồ Quý Ly, một anh hùng tài ba, nhưng không gặp thời dẫn đến thất bại qua một câu thơ khá ngậm ngùi "Anh hùng di hận kỷ thiên niên" (Anh hùng để lại cái hận ngàn năm).

Thành nhà Hồ đẹp và kiên cố, lực lượng quân đội cũng quy củ được thừa hưởng từ đội quân nhà Trần trước đó đã ba lần đánh tan quân Nguyên Mông. Đại Việt sử ký toàn thư còn chép lại, thủy quân lúc đó đã có "thuyền đinh sắt để phòng giặc phương Bắc, có hiệu là "Trung tàu tải lương", "Cổ lâu thuyền tải lương", chỉ mượn tiếng là chở lương thôi, nhưng bên trên có đường sàn đi lại để tiện việc chiến đấu, bên dưới thì hai người chèo một mái chèo". Hồ Hán Thương đã "đặt 4 kho quân khí. Không kể là quân hay dân, hễ ai khéo nghề  đều sung vào làm việc".

Trớ trêu của lịch sử là thành nhà Hồ có khả năng phòng thủ rất tốt, thế nhưng, trong cuộc chiến đấu với quân Minh xâm lược, lại chưa một lần phát huy được khả năng quân sự. Các trận đánh cuối cùng của Hồ Quý Ly không ở đó mà lại diễn ra ở vùng biển Tĩnh Gia (Thanh Hóa) và Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Chắc Hồ Quý Ly không ngờ, chính người mà ông tuyển chọn trong kỳ thi Thái Học Sinh là Nguyễn Trãi mới có thể giúp Lê Lợi đánh tan quân Minh, 20 năm sau. Phải chăng Nguyễn Trãi đã rút ra được bài học từ Hồ Quý Ly: Thắng hay bại chủ yếu dựa vào lòng dân, chứ không hẳn dựa vào thành quách.
PGS.TS Trịnh Sinh

Bình luận

ZALO