Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 12:04 GMT+7

Diễn đàn Quốc hội:

Hệ lụy lớn từ xây dựng thủy điện theo phong trào

Biên phòng - Thảo luận về kết quả quy hoạch tổng thể về thủy điện, nhiều đại biểu cho rằng, phát triển thủy điện là hết sức cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, điện khí hóa nông thôn, phát triển đất nước. Việc phát triển thủy điện thời gian qua là nỗ lực lớn của Đảng và Nhà nước trong giải quyết điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt.

 615doa.jpg
Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh thảo luận tại Tổ.

Tuy nhiên, công tác quy hoạch, phát triển thủy điện còn thiếu chặt chẽ, tình trạng quy hoạch tràn lan xảy ra ở nhiều địa phương, vùng miền, gây nguy cơ thiệt hại nhiều diện tích rừng, tác động xấu tới môi trường sinh thái, sản xuất của người dân. Hầu hết ý kiến đều bày tỏ lo ngại đối với phong trào xây dựng thủy điện ở nhiều địa phương, dẫn đến những hệ lụy rất lớn cho hiện tại và thế hệ mai sau.

Nhiều đại biểu đánh giá cao việc rà soát, loại bỏ trên 400 dự án thủy điện của Chính phủ. Tuy nhiên đối với những dự án thủy điện triển khai trong thời gian tới, các đại biểu Phạm Văn Tấn (Nghệ An), Nie Thuật (Đắk Lắk) cho rằng, Chính phủ phải đặc biệt lưu ý đến tố kỹ thuật, an toàn đập, hồ chứa, thực hiện tốt chính sách di dân, tái định cư và đảm bảo ít tác động xấu môi trường. Đại biểu Lê Thanh Vân (Hải Phòng) đặt vấn đề: “Việc Chính phủ rà soát loại khỏi hàng trăm dự án là cần thiết, cân đong đo đếm về lợi ích đem lại với sự phá hủy về tài nguyên môi trường và cả đời sống người dân. Cần tập trung một số thủy điện lớn trên một số nhánh sông có độ chênh lệch tạo ra thủy lực lớn kết hợp thủy điện và thủy lợi, tạo ra sự hài hòa nguồn nước cho công trình thủy lợi và thủy điện.”

Đại biểu Lê Nam (Thanh Hóa), Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) cũng đề nghị Chính phủ giải thích rõ việc dừng, tạm hoãn triển khai các dự án thủy điện sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng điện của cả nước và có xảy ra tình trạng thiếu điện hay không; thiệt hại của việc dừng, tạm hoãn các công trình, dự án thủy điện như thế nào.

Các đại biểu cũng cho rằng, cần xem xét vấn đề thực hiện cam kết trồng lại rừng sau khi phát triển thủy điện thời gian qua như thế nào. “Vấn đề trồng rừng thay thế và thực hiện chính sách môi trường đã nêu cơ bản nhưng tôi đề nghị cần thống kê rà soát đầy đủ diện tích đất rừng bị mất,” Đại biểu Lê Thị Tám, đoàn Nghệ An nói. “Cần nêu cụ thể rõ diện tích đất rừng bị mất do làm thủy điện trên cả nước. Nêu rõ diện tích trồng rừng thay thế và bao nhiêu diện tích chưa trồng được, nguyên nhân vì sao.”

Tuy nhiên, hầu hết các đại biểu Quốc hội cho rằng phải lấy tiêu chí hiệu quả kinh tế và độ an toàn của các dự án đang vận hành, đặc biệt là dự án thủy điện nhỏ và vừa để xem xét qui hoạch các dự án thủy điện. Nếu không an toàn thì cần thiết phải đóng cửa công trình thủy điện hoặc có biện pháp khắc phục nguy cơ mất an toàn. Đại biểu Nguyễn Văn Minh (TP HCM) thẳng thắn: “Làm thủy điện theo kiểu phong trào, không có quy hoạch. Những con số trong báo cáo của Bộ Công Thương quá nhiều điều khiến chúng ta giật mình”.

Đồng tình với ý kiến này, nhiều đại biểu đặt câu hỏi: Chính phủ phải trả lời thế nào về con số 20% thủy điện lớn, 55% thủy điện nhỏ chưa có phương án phòng chống lụt bão thì lấy gì bảo đảm an toàn cho nhân dân? 37% số thủy điện không trồng rừng thì trách nhiệm ra sao? Phủ rừng không đủ thì phải đền bù thế nào? Không thể chỉ dừng ở báo cáo, đánh giá là xong. “QH không nên cho qua điều này. Không chỉ giơ tay đồng ý loại bỏ các dự án thủy điện là xong mà phải truy trách nhiệm” – Đại biểu Nguyễn Văn Minh nhấn mạnh. Thậm chí, đại biểu Nguyễn Phước Lộc (TP HCM) còn chỉ ra: việc “nở rộ” phong trào làm thủy điện nhằm tận thu rừng, khai thác khoáng sản... nhưng báo cáo không nhắc đến và không làm rõ việc xử lý cá nhân, tổ chức sai phạm.

Đại biểu Dương Trung Quốc (Đồng Nai) khẳng định: thủy điện là “bài toán âm”, phần lớn làm theo kiểu “mì ăn liền”, chưa kể lấy gỗ là chính. Nhưng ông lại đặt ra vấn đề: “Chính phủ siết chặt lại thủy điện là một thành tích chăng? Đây là sự lãng phí vô cùng lớn. Doanh nghiệp được cấp phép, đầu tư rồi thắt lại thì lãng phí đó như thế nào?”. Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Trần Du Lịch (TP. Hồ Chí Minh) băn khoăn việc nhà đầu tư bỏ tiền làm thủy điện nhưng nay loại ra thì trách nhiệm cá nhân, tập thể lập quy hoạch ra sao: “815 dự án còn lại là chốt rồi hay sẽ tiếp tục rà soát thì phải làm rõ để doanh nghiệp biết đường. Phải chăng chỗ bị loại ra là chưa có ai xí phần? Đây chính là lỗ hổng pháp lý”.

Đại biểu Nguyễn Văn Minh bức xúc: “Làm thủy điện đa số là nhắm vào khai thác rừng, nay “thổi còi” thì họ cũng đã kịp lấy hết gỗ rồi”. Đại biểu Trương Văn Vở đề nghị: “đánh giá rõ và giao nhiệm vụ cho bộ, ngành liên quan đối với các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang làm thủy điện giai đoạn 2006-2012 đã “ăn” hàng chục ngàn hecta rừng nhưng trồng thay thế chưa đầy 1.000 ha”…

Trước thực trạng đó, nhiều đại biểu đề nghị kỳ họp này Quốc hội chưa thông qua nghị quyết về thủy điện vì còn nhiều vấn đề, đồng thời đề xuất chấm dứt việc cấp phép thủy điện nhỏ vì đa số loại này do tư nhân làm nên bỏ qua yếu tố lợi ích xã hội và môi trường.

Ghi nhận đời sống đồng bào dân tộc miền núi sau di cư nhường đất cho thủy điện còn rất khó khăn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu phải rà soát lại các công trình thủy điện để xem đã lo cho dân nghiêm túc chưa. Ủy ban KH, CN&MT của Quốc hội và các địa phương phải tiếp tục giám sát chặt chẽ việc này. Từ nay đến hết năm, Chính phủ phải tiếp tục báo cáo QH về việc rà soát các công trình thủy điện, tình hình an toàn hồ đập, công tác di dân tái định cư.

Luật cần mở rộng phạm vi điều chỉnh

Thảo luận dự thảo Luật Công chứng sửa đổi, đại biểu tập trung góp ý về phạm vi công chứng, đối tượng được miễn đào tạo ngành nghề công chứng viên, về chủ trương xã hội hóa nghề công chứng và quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng.

Theo các đại biểu dự thảo Luật phải giải quyết được những hạn chế, bất cập không còn phù hợp hoặc còn thiếu so với thực tiễn cần điều chỉnh. Đó là việc xác định loại việc cần phải công chứng; phân định phạm vi nội dung cần công chứng, chứng thực; xử lý hậu quả từ việc Phòng công chứng, Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động; vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước trong việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứng.... Thực tiễn vừa qua cũng cho thấy khái niệm công chứng và chứng thực đang còn thiếu rành mạch. Các đại biểu đề nghị cần tiếp tục tổng kết, nghiên cứu để có thể bổ sung thêm các nội dung nói trên vào dự thảo Luật.

Đại biểu Nguyễn Hữu Quang (Thanh Hóa) đồng tình sự cần thiết phải mở rộng phạm vi hoạt động công chứng, trong đó giao cho công chứng viên chứng nhận chữ ký người dịch thay vì để các Phòng tư pháp cấp huyện chứng thực như hiện nay. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần bổ sung quy định về giá trị pháp lý ngang nhau khi chứng thực ở phòng tư pháp cấp huyện và văn phòng công chứng.

Nhất trí với ý kiến trên, đại biểu Lê Trọng Sang đề nghị dự thảo Luật cần mở rộng phạm vi điều chỉnh như việc chứng thực chữ ký, chứng thực bản sao tạo thuận lợi cho người dân và giảm áp lực cho cơ quan công quyền. Đại biểu Đỗ Văn Đương (TP HCM) cho rằng dự luật quy định công chứng viên chỉ được hành nghề đến năm 65 tuổi là không hợp lý vì đây là lĩnh vực xã hội hóa nên nếu ai còn sức khỏe thì vẫn có thể làm.

Đại biểu Lê Minh Thông (Thanh Hóa) cho rằng, dự thảo nêu quy hoạch văn phòng công chứng dựa theo đơn vị hành chính lãnh thổ là không phù hợp, bởi hoạt động của văn phòng công chứng vì lợi nhuận kinh tế và theo nhu cầu của xã hội.

Dự kiến, Dự thảo Luật Công chứng sửa đổi sẽ được đại biểu Quốc hội tiếp tục thảo luận ở hội trường vào ngày 12/11.
HL

Bình luận

ZALO