Biên phòng - Khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ 2 đang dần đi vào hồi kết, nguyên thủ các cường quốc Mỹ, Anh và Liên Xô (cũ) đã có nhiều cuộc gặp để thảo luận các vấn đề chủ yếu là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít và giải quyết các vấn đề thời hậu chiến, tập trung vào biện pháp xử lý các nước bại trận, tổ chức Liên hợp quốc cũng như phân chia khu vực ảnh hưởng giữa các nước lớn - thực chất, giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa (TBCN) và Xã hội chủ nghĩa (XHCN). Việc "chia xẻ bản đồ thế giới" phụ thuộc vào sự dàn xếp giữa các thế lực quốc tế, tạo nên những vùng lãnh thổ được hoạch định theo một trật tự thế giới mới đang hình thành (gọi là trật tự Iant).
| |
| Tàu cá ngư dân Quảng Ngãi đánh bắt trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh: Internet |
Theo đó, châu Âu bị chia thành hai mảng: Tây Âu do Mỹ, Anh, Pháp kiểm soát, Đông Âu do Liên Xô kiểm soát. Ở châu Á - Thái Bình Dương, dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, Mỹ được quyền chiếm đóng Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên bị chia đôi theo vĩ tuyến 38 (Liên Xô đóng ở phía Bắc, Mỹ đóng ở phía Nam)...
Theo thỏa thuận Hội nghị Pốt-xđam (ngày 26-7-1945), các nhà lãnh đạo Mỹ, Anh, Liên Xô đã quyết định chia Đông Dương làm hai khu vực để tiện cho việc giải giáp quân đội Nhật, lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới. Việc giải giáp ở khu vực Bắc vĩ tuyến 16 ủy thác cho quân đội Trung Hoa dân quốc (quân Tưởng Giới Thạch); liên quân Anh - Ấn đảm nhận ở khu vực phía Nam vĩ tuyến 16.
Cũng trong thời gian này, phong trào giải phóng dân tộc có một bước phát triển mạnh mẽ, nhất là ở vùng Đông Á và Đông Nam Á. Cuộc đấu tranh chống ách thống trị thực dân gắn kết với cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật đã thu hút đông đảo quần chúng, tập hợp nhiều đảng phái chính trị tham gia nhằm giải thoát khỏi tình trạng thuộc địa và phụ thuộc.
Bước đột phá là ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng (15-8-1945), ba nước In-đô-nê-xi-a, Việt Nam và Lào đều lần lượt tuyên bố độc lập; là những quốc gia đầu tiên trên thế giới thoát khỏi hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ 2... Tuy nhiên, việc xuất hiện Nhà nước Việt Nam độc lập dù là một thực tế, nhưng các thế lực đế quốc không muốn thừa nhận nên đã câu kết, thoả hiệp và nhân nhượng để thực dân Pháp quay trở lại Việt Nam.
Trong bối cảnh Việt Nam cuối năm 1945, đầu 1946, nhằm thôn tính Bắc Việt Nam, ngày 28-2-1946, Pháp đã ký Hiệp ước với Trung Hoa dân quốc (gọi là Hiệp ước Hoa - Pháp); trong đó, Trung Hoa dân quốc đồng ý cho quân Pháp vào thay thế họ ở Bắc Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích tình hình, so sánh lực lượng lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đi đến quyết định hòa hoãn với Pháp để loại Tưởng ra khỏi miền Bắc và để đạt được một số mục đích có lợi cho cách mạng. Dự thảo Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp nhanh chóng được hoàn thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Hội đồng Chính phủ báo cáo với Ban Thường trực Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban kháng chiến, Cố vấn tối cao tại phiên họp đặc biệt sáng 6-3-1946.
Hồi 16 giờ 30 phút, ngày 6-3-1946, lễ ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt đã diễn ra tại nhà số 38, phố Lý Thái Tổ, Hà Nội. Theo Hiệp định, Pháp công nhận Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính riêng, thuộc Khối Liên hiệp Pháp và cam đoan thừa nhận kết quả cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ. Nước Việt Nam chấp thuận để Pháp đưa 15.000 quân vào miền Bắc thay thế quân Tưởng và sẽ rút hết sau 5 năm...
Mặc dù, phía Pháp chưa công nhận nền độc lập của Việt Nam, nhưng bản Hiệp định là một văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên của nước Việt Nam độc lập ký với Pháp trước sự chứng kiến của đại diện Mỹ, Anh và Trung Hoa. Điều này cũng chứng tỏ rằng, Pháp đã thừa nhận nước Việt Nam là một nước có chủ quyền. Khẳng định về ý nghĩa quốc tế của bản Hiệp định, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Bản Hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao".
Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp đã biến thỏa thuận tay đôi (Hoa - Pháp) thành thỏa thuận tay ba (Việt - Pháp - Hoa), kết thúc vai trò của quân Tưởng Giới Thạch về mặt pháp lý theo quyết định của các nước Đồng minh tại Hội nghị Pốt-xđam; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế.
Về vấn đề quần đảo Hoàng Sa, theo Tuyên bố Pốt-xđam, việc giải giáp quân đội Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16 do quân đội Trung Hoa dân quốc (quân Tưởng Giới Thạch) đảm nhận; liên quân Anh - Ấn đảm nhận ở phía Nam vĩ tuyến 16. Quần đảo Hoàng Sa nằm ở giữa vĩ tuyến thứ 15 và 17 nên việc giải giáp quân đội Nhật trên quần đảo Hoàng Sa thuộc thẩm quyền của Trung Hoa dân quốc. Sau khi giải giáp quân Nhật, Trung Hoa dân quốc phải trao trả Hoàng Sa cho quốc gia có chủ quyền (là Việt Nam), nhưng họ đã thừa cơ chiếm đoạt Hoàng Sa.
Tuy nhiên, theo Hiệp định sơ bộ (ký kết ngày 6-3-1946 giữa Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa) thì Việt Nam dân chủ cộng hòa nằm trong Khối Liên hiệp Pháp nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện của Việt Nam về vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Thực hiện các quyền đó, Pháp đã phản ứng mạnh mẽ việc chiếm cứ trái phép quần đảo Hoàng Sa của quân Tưởng Giới Thạch, yêu cầu họ phải trả lại quần đảo này. Về phía Trung Hoa dân quốc, một mặt bị Pháp kiên quyết phản đối, mặt khác để đối phó với Quân giải phóng ở trong nước, Trung Hoa dân quốc buộc phải rút quân khỏi quần đảo Hoàng Sa, kết thúc khoảng thời gian ngắn chiếm đóng trái phép quần đảo này.
Sau khi lấy lại Hoàng Sa từ Trung Hoa dân quốc, Pháp đã tiến hành xây dựng một số công trình và tiến hành hoạt động khai thác ở đây. Đến ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho Chính phủ Bảo Đại quản lý, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa.
Sự kiện trên cho thấy, việc Trung Quốc đưa ra cái gọi là "tiếp quản" Hoàng Sa là một sự bịa đặt hoàn toàn phi lý, bởi Tuyên ngôn Pốt-xđam chỉ cho phép Trung Hoa dân quốc giải giáp quân đội Nhật ở quần đảo Hoàng Sa, chứ không cho phép Trung Hoa dân quốc chiếm đóng hay "tiếp quản" rồi biến nó thành của mình đối với quần đảo này. Sự chiếm cứ bất hợp pháp Hoàng Sa của quân Tưởng Giới Thạch từ sau Hội nghị Pốt-xđam đến ngày 17-1-1947, buộc phải trao trả cho Pháp.
Chính phủ Bảo Đại đã tiếp nhận quyền quản lý quần đảo Hoàng Sa do Pháp trao lại ngày 14-10-1950. Rõ ràng hành động chiếm cứ trái phép Hoàng Sa (dù chỉ là trong thời gian ngắn) của Trung Hoa dân quốc đã vi phạm nghiêm trọng Tuyên ngôn Pốt-xđam, tập quán và thông lệ quốc tế.
Việc ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt ngày 6-3-1946 đã mang lại cơ sở pháp lý - lịch sử hết sức quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.






