Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 06:23 GMT+7

Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27-7:

Họ đã yêu như là sống

Biên phòng - Tôi nhận cuộc gọi của ông Huỳnh Phương Bá, một cựu chiến binh, chuyên gia Hán Nôm hiện sinh sống ở quận Hải Châu, Đà Nẵng vào một chiều mưa xối xả. Gió rít lên từng hồi qua lớp kiếng trắng xanh của tòa nhà cao tầng. Từ phía bên kia, vẫn chất giọng Quảng Đà quen thuộc, gần gũi và chân tình: "Mạnh hả? Khỏe hông con?". "Dạ, con đây chú Bá. Con khỏe chú ạ. Cô khỏe hông chú?" - Tôi nhanh nhảu. "Cảm ơn Mạnh lúc nào cũng hỏi thăm cô, nhưng cô vừa đi chiều nay rồi, Mạnh ơi!".

wbp2_8a-1.jpg
Tác giả và ông Huỳnh Phương Bá.

Cuộc nói chuyện rơi vào thinh không trong vài giây, sau đó tiếp tục: "Chú điện thoại để báo Mạnh biết và cảm ơn Mạnh đã kịp ghi lại cho gia đình chú những hình ảnh đẹp của cô. Bộ phim tài liệu "Đâu chỉ dài và nhớ" góp phần kéo dài cuộc sống của cô...”. Đây là bộ phim tài liệu về tình yêu qua 12 lá thư chiến trường - hậu phương của cặp vợ chồng Huỳnh Phương Bá, Vương Thị Tiệng, được phát trên kênh HTV9 của Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh vào năm 2014. Tôi và ê kíp làm phim đã phải thuyết phục ông Bá, bà Tiệng để ghi lại hình ảnh các kỷ vật chiến tranh và cuộc sống đời thường của họ. Đây là một mối tình thời chiến, khác hẳn với tình yêu của lớp thanh niên bây giờ.

Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, rất nhiều chàng trai, cô gái đang ở tuổi thanh xuân lên đường ra mặt trận. Ông Huỳnh Phương Bá cũng là một trong số hàng ngàn những người trẻ yêu nước thời bấy giờ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Đầu năm 1961, tình hình chiến trường miền Nam trở nên khốc liệt hơn. Ông Huỳnh Phương Bá (khi đó là Trung úy trinh sát) lên đường vào Nam và chính thức bước vào cuộc chia ly trường kỳ 13 năm.

Và suốt chừng đó thời gian, sợi dây liên kết bền chặt giữa Bá và Tiệng là 126 lá thư đi và đến từ hai đầu nỗi nhớ. Chừng đó cánh thư không chỉ là câu chuyện tình yêu son sắt đầy lý tưởng của họ, mà còn như một cuốn hồi ký, một cuộn phim tài liệu sống động về chặng đường đầy gian lao để sống và chiến đấu hào hùng của quân dân hai đầu đất nước.

Dưới đây là một vài trích đoạn thư trong số 126 lá thư đó mà tôi tranh thủ ghi chép lại khi thực hiện phim tài liệu này. Trong thư gửi chồng ngày 10-4-1965, bà Vương Thị Tiệng viết: "...Hôm nay em đi họp Đoàn, phát động phong trào tình nguyện đăng ký 3 sẵn sàng. Đối với nữ thì 3 đảm đang, anh ạ! Trong gian khổ, trong chiến đấu mới thấy được tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết đấu của quân và dân ta. Anh ơi! Cả miền Bắc đang hướng về miền Nam ruột thịt. Miền Bắc sẽ làm tất cả để cung cấp sức người, sức của cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược...".

Còn đây là thư ông Bá gửi cho vợ, được viết trên đường hành quân vào miền Tây Quảng Ngãi, giữa ì oàng tiếng súng, song những dòng tâm sự của ông vẫn tràn đầy lạc quan, tin tưởng vào ngày mai: "...Em ở lại trong sự dìu dắt của Đảng, có sự giúp đỡ của tập thể, bạn bè và gia đình anh em thì em sẽ lớn lên... Vợ chồng ai chả muốn sống gần nhau trong tình âu yếm! Nhưng Tổ quốc còn bị chia đôi, cho nên cảnh sum vầy tạm thời bị gián đoạn. Mấy năm rồi, anh xa ba mẹ yêu dấu, xa các anh, các chị mến thương và giờ đây phải xa người vợ trẻ thân yêu nhất của mình mà chưa hẹn ngày gặp mặt, mà chắc chắn rằng ngày ấy phải đến với chúng ta...".

Chiến tranh có thể hủy diệt mọi thứ trên đường nó đi qua, song tình yêu như một sức mạnh không thể dập vùi, tình yêu đó đã tiếp thêm sức mạnh cho những chàng trai nơi trận tuyến chắc tay súng, bảo vệ Tổ quốc với niềm tin son sắt vào một ngày mai đất nước thống nhất, tình yêu bị kìm nén ấy sẽ lại bùng cháy và thăng hoa cùng dân tộc. Nhưng khác hẳn với những gì đang xảy ra ở tiền tuyến trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhiều lá thư mà ông Bá gửi về cho vợ ở hậu phương lại luôn thể hiện tinh thần lạc quan đến khó tin về cuộc sống và chiến đấu trên chiến trường.

"Ngày 6-3-1973. Em mến yêu. Em! 16 năm biết nhau, hơn 13 năm kể từ ngày cưới, thiếu 2 tháng nữa là đầy 12 năm xa cách, kể ra cũng lâu mà anh cứ ngỡ như năm nào. Nếu gặp lại nhau cũng tưởng vài năm. Chiến trường đã qua ba cuộc chiến tranh: Đặc biệt, Cục bộ, Việt Nam hóa. Những năm gian khổ, khó khăn nhất là 3 năm Việt Nam hóa, cũng là lúc em trở lại trường và cũng là lúc miền Bắc tạm chấm dứt chiến tranh phá hoại của Mỹ. Hoàn cảnh chung như vậy, cho nên tâm tư tình cảm những năm ấy rất phức tạp, em ôn lại những gì anh đã viết trong những năm đó và những gì em đã viết cho anh. Lúc nào gặp nhau chắc sẽ hết trách, hết giận hờn. Anh hay thay đổi đơn vị, vì vậy viết thư cho anh hòm thư sau: 748002 TA10 em nhé...”.

Mỗi lá thư là một câu chuyện, một tâm sự của người lính trong chiến trường khói lửa gửi về cho gia đình, người thân... Mặc dù tất cả đều gắn với hai từ "bình thường" và "yên tâm", nhưng ẩn phía sau đó lại là những sự thật khắc nghiệt! Đi giữa cuộc chiến, giữa ranh giới của sự sống và cái chết, người ta dường như chỉ biết chiến đấu trong phút giây hiện tại. Ngày mai luôn thuộc về phạm trù lý tưởng, phạm trù của niềm tin và hy vọng. Có khi họ bặt tin nhau hơn một năm trời nhưng vẫn hy vọng và tin tưởng tuyệt đối.

Chờ đợi là nốt lặng trong bản nhạc tình yêu do chính những người yêu nhau viết nên. Bao năm xa cách trong chiến tranh, tình yêu như một phép màu. Là vợ chồng nhưng chưa có với nhau cái gọi là "đêm tân hôn". Sáng tổ chức cưới trong đơn vị, chiều ông lên đường vào Nam. Gọi là lễ cưới chứ cũng chỉ vài gói thuốc lá, kẹo bánh của bộ đội... làm lễ cho đúng nghi thức. Năm 1975, ông trở về sau 13 năm ở chiến trường. Vợ chồng gặp lại nhau trong hạnh phúc vỡ òa.

Ông không còn là chàng trai trẻ trung, bà cũng không còn là cô gái tuổi đôi mươi ngày nào. Nhưng trong lòng họ, tình yêu thì vẫn còn vẹn nguyên như thuở ban đầu. Hai vợ chồng chào đón người con gái đầu là chị Huỳnh Thị Phương Trinh. 4 năm sau, ông bà sinh thêm người con trai là anh Huỳnh Phương Nam. Tên của hai con được ông bà đặt với những ý nghĩa đặc biệt, gắn liền với 13 năm nhớ thương, đợi chờ và hội ngộ. Ông Huỳnh Phương Bá được Bảo tàng Quân khu 5 đề nghị và ông đã đồng ý chọn một số lá thư trưng bày trong bảo tàng.

Hiện, hằng ngày, ông vẫn nghiên cứu Hán Nôm và dạy chữ Hán Nôm cho người cao tuổi trong lớp học do chính ông tổ chức tại quận Hải Châu, Đà Nẵng. Ông là một trong những người có công dịch thuật các tài liệu cổ nhằm làm sáng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đức Mạnh

Bình luận

ZALO