Biên phòng - Ai đã có dịp đến Tây Nguyên, có lẽ không thể quên được ấn tượng của những đêm đại ngàn bên bếp lửa bập bùng giữa nhà rông, nghe người già kể những bài "hơamon" (sử thi) đậm chất cao nguyên, trong đó có sử thi Dyông Dư. Trong lúc giọng kể trầm bổng, lúc hào hùng, khi êm đềm, dịu ngọt, dân làng và khách gần xa ngồi im lặng say sưa lắng nghe như nuốt từng lời. Cứ thế, đêm kể hơamon kéo dài suốt đêm thâu cho đến khi con gà trống gáy vang núi rừng…
![]() |
| Một đêm hát kể sử thi ở làng Hơn, xã Ya Ma, huyện Kông Chro, Gia Lai. Ảnh: Nguyễn Văn Huynh |
Dyông Dư được xem là một sử thi lớn nhất, dài nhất và nổi tiếng nhất của người Ba Na, gần gũi với mô típ chuyện cổ "Chàng cóc" của người Kinh - kể về tâm hồn cao đẹp, niềm khát khao hạnh phúc ẩn chứa trong cái vỏ bọc xấu xí của chàng Dyông Dư, chỉ có sự trung hậu của nàng Yang mới cởi bỏ được. Dyông Dư là người kỳ dị, có thân hình to lớn, mắt lồi, miệng rộng, tai to, "ăn hết nồi bảy nồi bung, uống chơi năm bảy ghè rượu cần. Ngủ say đến nỗi phải nấu chì đổ lỗ tai mới thức".
Dù mang lốt người xấu xí, Dyông Dư là người có tài cao và đức độ, đánh bại mọi kẻ thù. Khi người thân trở thành kẻ phản bội, phải chiến đấu với nhau một mất một còn, chàng rất đau lòng như phải "tự chặt chân chặt tay". Lòng ham muốn của cải và quyền lực đã đẩy ngưòi anh ruột Dăm Joong trở mặt với Dyông Dư và các em. Đó là một bi kịch hiếm thấy trong sử thi Ba Na.
Khác với nhân vật Xinh Nhã trong sử thi Đam San - cuộc đấu tranh tìm hạnh phúc cho mình và cho buôn làng là việc chống lại Tù trưởng Giarơ Bú gian ác, Dyông Dư chủ yếu chỉ đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt thoát ra ngoài cái vỏ bọc xấu xí để đi tìm hạnh phúc, tìm ý nghĩa cuộc sống. Trong hơamon Dyông Dư, hệ thống ý niệm về thế giới tự nhiên và xã hội của người Ba Na cũng ngầm được thể hiện qua nhân vật Dyông Dư.
Một điểm khác biệt rất đáng chú ý nữa là trong không gian rộng lớn của sử thi này, sự xuất hiện với tần số khá dày của biển, rất cụ thể và với tư cách giao thoa về địa lý (ví dụ: "Họ đi, đi mãi, dọc bờ sông ra tới biển (...). Họ quay về, ai cũng thấy lòng mình vui sướng lắm. Mỗi khi nghĩ đến việc mình đã nhìn thấy biển và nhất là đã uống cả nước biển mặn như muối, họ lại càng cười to hơn...") cho phép đặt vấn đề về những dấu tích nguồn gốc được truyền lại như một hoài niệm tiên tổ.
Thế giới trong hơamon Dyông Dư mang sắc màu huyền ảo của thế giới thần linh trong quan hệ tương tác, gần gũi với đời sống con người. Dyông Dư được sinh ra từ vị thần tối thượng Bok Kei Dei và vợ là Yă Kung Keh - người có vai trò xác lập xã hội mẫu quyền. Cả hai đều là thần trông coi, chăm sóc người trần gian theo truyền thuyết Ba Na, được bỏ một mình trong nhà rông, không được ăn, không được bú... để thử thách phẩm chất con trời. "Lâu ngày, lâu tháng, lâu năm", Dyông Dư vụt lớn lên thành chàng trai Ba Na khỏe mạnh và dũng cảm "nhất trần đời".
Khác với Đam San - cái chết của chàng và sự tái sinh qua hình ảnh Đam San cháu, ít nhiều mang ý nghĩa bi kịch của tập tục "nối dây", bi kịch vì mâu thuẫn giữa khát vọng chiếm nữ thần mặt trời làm vợ với khả năng hữu hạn của người anh hùng - Dyông Dư từ lúc sinh ra, trải qua nhiều đấu tranh cam go trong cuộc sống, đánh nhau cả với thần mặt trời để lấy cho được nàng Bia Yang xinh đẹp... Và chuyện kết thúc trong khúc khải hoàn, đoàn viên của vợ chồng Dyông Dư - Bia Yang, trong ước mơ chung xây buôn làng tươi đẹp.
Giá trị văn hóa tinh thần vô giá
Về ngôn ngữ, bên cạnh cách diễn đạt rất đời về cuộc sống lạc quan của người Ba Na, biểu hiện qua tiếng "cười đầy cả mồm" xuyên suốt hơamon Dyông Dư, hình ảnh Bia Yang được miêu tả đầy nhục cảm mà tinh tế: "Da nàng trắng nõn nà, mặc vào 300 lớp váy màu xanh chàm mà vẫn cảm thấy như trần truồng. Sáng chói bắp chân làm cho trời mưa sấm sét dữ dội. Sáng chói bắp đùi làm cho trời đổ mưa rào, nước dâng khắp cả nguồn sông Ba (...). Gương mặt sáng sủa, thân hình nở nang, Bia Yang đẹp hơn cô gái người Kinh, xinh hơn con chim vẹt đực...". Nội dung này khác với cách ví von cụ thể như nàng Bơra Tang trong sử thi Đam San: "Sợi tóc nàng dài hơn suối nước, đen hơn rắn than, bụng thon như bụng kiến vàng"...
Có thể nói, sử thi Dyông Dư là kết tinh tâm hồn lạc quan và cuộc sống hữu thể của người Ba Na xưa, ít nhiều đại diện cho bản sắc văn hóa lịch sử Tây Nguyên. Nhiều chuyên gia dân tộc học đã nhận định, chính quá khứ "khép kín" trong phạm vi buôn làng đã sản sinh ra rất nhiều trường ca vừa giống vừa khác nhau, ít nhiều có sự gần gũi mà dị biệt tùy thuộc từ đặc thù tự nhiên, xã hội của từng buôn làng, từng bộ tộc. Cũng như hàng trăm sử thi khác, hơamon Dyông Dư đang lẩn khuất ở mỗi làng buôn của người Ba Na, qua những đêm bên bếp lửa nhà rông, bên những ghè rượu cần, trong tiếng thở của rừng và qua lời kể của người già.
Có nhiều giai thoại nói rằng, những người biết kể hơamon Dyông Dư bao giờ cũng lấy vợ đẹp, vì quanh họ mỗi đêm diễn xướng có rất nhiều cô gái xinh xắn, mê mẩn giọng sử thi li kì. Sự thật ấy dường như chưa ai tìm hiểu, song quả đúng là những đêm hát kể Dyông Dư trong cộng đồng Ba Na bao giờ cũng thu hút rất nhiều người tham dự. Không chỉ có những người cao tuổi hay trẻ em mà cả các nam nữ thanh niên cũng không bỏ lỡ cơ hội được thưởng thức câu chuyện lạ lùng mà gần gũi này.
Có thể nói, Dyông Dư là vẻ đẹp lung linh trong văn hóa truyền thống Ba Na, dù vậy vẫn phải thừa nhận rằng, nó là sản phẩm của một thời đại đã qua. Những năm gần đây, nhiều biểu hiện của cuộc sống hiện đại đã len vào từng cộng đồng làng Ba Na. Do đó, dù không muốn song rõ ràng là sải cánh thần kì của sử thi huyền thoại đang dần bị thu hẹp lại bởi áp lực nhanh, mạnh của một cuộc sống mang màu sắc hiện đại hóa, công nghiệp hóa.
Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị của sử thi nói chung, Dyông Dư nói riêng đang được đặt ra cấp thiết hơn lúc nào hết.







