Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 01:46 GMT+7

Keng Đu thỏa khát

Biên phòng - Đồng bào ở khắp các bản làng Keng Đu đang được thỏa sức tận hưởng nguồn nước tự chảy từ trên đỉnh núi Huổi Chót về. Đã 10 năm, công trình nước được đưa vào sử dụng nhưng nhiều người vẫn nhớ như in những ngày tháng Keng Đu như vào hội, thanh niên trai tráng, phụ nữ, trẻ em tùy theo khả năng của mình góp sức xây dựng công trình này.

 17133.jpg
Sáng sớm, người dân Keng Đu lấy nước ở các bể được dẫn từ đỉnh Huổi Chót về.
Ký ức di dân vì “khát” nước

Hồi kẻng từ đồn biên phòng vang lên trong sương sớm là dấu hiệu quen thuộc báo một ngày mới đã đến ở Keng Đu. Như một “lịch trình”, khi cửa các ngôi nhà vừa mở, người dân í ới gọi nhau ra các bể nước trung tâm bản. Người lớn mang theo thùng, can nhựa lấy nước phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của gia đình trong một ngày, trẻ con đến đánh răng, rửa mặt chuẩn bị lên lớp học. Buổi sáng ở Keng Đu thật sôi động.

Đã một thời gian dài, nhân dân ở Keng Đu phải chịu cảnh “khát” nước trầm trọng. Khoảng những năm 1990, hàng trăm hộ dân ở đây phải đi bộ 6-7 km gùi nước từ sông Nậm Nơn về dùng, những hộ không thể đi xa, dùng mọi dụng cụ có thể xếp hàng chắt từng giọt nước từ mó nước. Thiếu nước trầm trọng, Keng Đu chìm trong đói nghèo, lạc hậu. Trước tình hình Keng Đu “khát cháy cổ”, năm 1992, Thiếu tá Phan Tiến Quý, Đồn trưởng đồn BP Keng Đu đã huy động cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị tìm mạch nước ở Khe Lài, xây bể chứa nước cho nhân dân sử dụng. Nhưng nguồn nước ở đây cũng quá ít, không đủ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong vùng. Chỉ trải qua vài mùa rẫy, nguồn nước ở đây cũng cạn kiệt, Keng Đu lại thiếu nước trầm trọng. 21 hộ dân, với khoảng 150 nhân khẩu đã bỏ Keng Đu di cư sang Lào và nhiều hộ dân khác cũng nhấp nhổm di cư.     

Năm 1996, trong quá trình tuần tra biên giới, lực lượng đồn BP Keng Đu đã phát hiện ở đỉnh Huổi Chót có một khe nước ngầm chảy với dung lượng lớn. “Ngay lúc đó, anh em tôi đã nghĩ đến giá như đưa được nguồn nước ở đó về phục vụ cuộc sống, sản xuất cho nhân dân thì còn gì bằng. Nhưng việc này rất khó khăn và tốn kém vì nó cách khu dân cư gần 10km đường rừng núi hiểm trở” - Ông Đậu Xuân Tiến, nguyên Đồn trưởng đồn BP Keng Đu nhớ lại. Tuy nhiên, ông Tiến vẫn mạnh dạn đưa ra sáng kiến trong các cuộc họp Huyện ủy Kỳ Sơn. “Không ngờ khi nghe “dự án” tui trình bày, huyện đã rất ủng hộ. Nhưng qua tính toán, tổng chi phí lên đến 1,4 tỉ đồng, quá lớn so với một huyện nghèo nhất nước như Kỳ Sơn vào thời điểm đó nên dự án lại rơi vào bế tắc” - Ông Tiến cho biết.

Năm 1999, tin vui đã đến với cán bộ, nhân dân Keng Đu, khi về làm việc tại tỉnh Nghệ An, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã đồng ý phê duyệt ngân sách xây dựng hệ thống nước từ Huổi Chót về trung tâm xã. Ông Đậu Xuân Tiến nhớ lại: “Cán bộ, nhân dân trên địa bàn Keng Đu vui lắm khi nhận được thông tin này, vậy là vấn đề sinh tử ở Keng Đu sắp được giải quyết. Từ đó, việc khảo sát, tính toán xây dựng hệ thống đường nước được gấp rút triển khai”.

 14044.jpg
Trung tá Nguyễn Thế Thành trao đổi với phóng viên.

“Ngày hội” đưa nước về bản

Rót cho chúng tôi những bát nước nấu từ củ khúc khắc có màu vàng óng như mật ong rừng, bốc hơi thơm phức (loại củ mà đồng bào ở Keng Đu dùng hàng ngày như chè xanh dưới xuôi), già làng Lo Pho Xeng (74 tuổi, bản Huổi Phun 1) kể về câu chuyện đưa nước về bản: “Đầu năm 1999, tui là một trong những người dân ở đây được cử cùng bộ đội biên phòng đi khảo sát, vẽ sơ đồ chi tiết để xây dựng đường ống dẫn nước. Địa hình hiểm trở, có những quãng phải kết dây để leo lên, chỉ khoảng 7km chiều dài nhưng cũng mất 1 tháng trời mới vẽ xong sơ đồ đường nước”. “Quá trình xây dựng công trình sẽ rất gian khổ, cán bộ, nhân dân phải khuân vác hàng chục tấn vật liệu (chủ yếu là ống sắt, xi măng) từ Huổi Tụ lên đến đỉnh Huổi Chót, dự kiến phải mất hàng tháng trời mới xong. Sợ dân không đủ lòng kiên trì, anh em chúng tôi lo lắm” - Ông Đậu Xuân Tiến nhớ lại.

Keng Đu cách trung tâm thị trấn Mường Xén 70 km đường rừng núi, những năm đó, đường ô tô chỉ mới đến xã Huổi Tụ, còn 40km về trung tâm xã Keng Đu phải đi bộ ròng rã 2 ngày đường. Những cuộc họp dân toàn bản, toàn xã được tiến hành, cận cảnh về sự gian khổ của “chiến dịch” xây dựng đường ống cũng được chỉ ra. Nhưng với người dân Keng Đu, để có nước sinh hoạt, họ sẵn sàng chấp nhận hi sinh, gian khổ. “Giao ước thi đua đã được ký kết giữa các bản. Nhân dân hừng hực khí thế, những người khỏe mạnh nhất được lựa chọn để vác đường ống.

Tháng 5-1999, gần 100 người, trong đó có 15 cán bộ, chiến sĩ đồn BP Keng Đu cơm đùm, cơm nắm thực hiện chuyến hành quân đầu tiên. Mất một ngày để ra đến Huổi Tụ, đoàn nghỉ 1 đêm, sáng hôm sau chất vật liệu lên vai vào lại Keng Đu. Cứ 3 người vận chuyển một ống sắt đường kính 20 cm, dài 5m. Đoàn người “rồng rắn” đi được 2/3 quãng đường thì trời đã xẩm tối, phải dừng lại để dựng lều bạt nghỉ qua đêm giữa rừng. Sáng hôm sau, khi đã cơm nước xong, mọi người tiếp tục hành trình, mãi đến quá trưa mới về đến trung tâm xã trong sự vui mừng của nhân dân. Họ được nghỉ 1,5 ngày để phục hồi sức khỏe, sau đó tiếp tục nhiệm vụ. Nghĩa là để đưa được 1 ống nước về Keng Đu sẽ mất 4 ngày trời. Quân dân đã hành quân 3 tháng ròng rã để tập kết tất cả vật liệu về đến Keng Đu” - Già làng Lo Pho Xeng nhớ lại. Công việc xây dựng đường ống bị tạm dừng lại vì mùa mưa đến, Keng Đu trở nên rất nguy hiểm.

Mùa khô năm 2000, nhiệm vụ xây dựng đường ống phải hoàn thành theo kế hoạch. Chị em trong vùng xung phong gùi cát từ sông Nậm Nơn lên để xây dựng bể chứa nước ở đầu nguồn Huổi Chót. Thật phấn khởi khi 21 hộ dân Keng Đu trước đây di cư sang Lào, nay đã trở về Keng Đu cũng góp sức để hoàn thành công trình. Cát từ sông Nậm Nơn mang lên đỉnh Huổi Chót phải vượt qua 14km đường rừng núi, có những quãng vách đá dựng đứng nên người khỏe nhất cũng chỉ “bế” được 25kg. Nhiều người trầy hết vai, xước hết chân nhưng ngày hôm sau vẫn tiếp tục đi. Trẻ nhỏ cũng xung phong đi theo để vận chuyển nước uống, thức ăn.

Sau hơn 1 năm triển khai với bao gian khổ, hi sinh của cán bộ, nhân dân ở Keng Đu, hệ thống dẫn nước dài 7km từ đỉnh Huổi Chót về các bản của xã Keng Đu đã hoàn thành. Một buổi sáng của tháng 11-2000, mọi người tập trung tại các bể nước ở bản Huổi Phun để chờ việc xả van hệ thống dẫn nước đầu nguồn Huổi Chót. “Mọi người sốt ruột thấy những giọt nước đầu tiên nhỏ xuống rất chậm. Chúng tôi chờ đợi trong lo lắng. Rồi nước phụt ra bắn trắng xóa. Nhân dân vỗ tay, nhảy múa, mừng khôn xiết” - Già làng Lo Pho Xeng nhắc lại câu chuyện như mới vừa hôm qua.

“Công trình xây dựng đường ống dẫn nước về Keng Đu được đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu, thậm chí là cả mạng sống của quân và dân trên địa bàn. Năm 2000, anh Cụt Ba Thoong và Seo Văn Mơ ở bản Huổi Phun 1 đã thiệt mạng do nước cuốn trôi khi xúc cát trên sông Nậm Nơn để xây dựng công trình. Nhưng hiện nay, với mức độ tàn phá rừng quá nhanh, nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ở Huổi Chót cũng rất lớn. Nếu không được sự quan tâm của các cấp, các ngành thì Keng Đu có nguy cơ trở lại thời kỳ “khát” nước” - Trung tá Nguyễn Thế Thành, Đồn trưởng đồn BP Keng Đu cảnh báo.

Viết Lam

Bình luận

ZALO