Biên phòng - Thôn 2, xã Trà Giang, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi trước đây là một vùng căn cứ cách mạng, bây giờ ít nhiều đã có sự đổi khác. Sau bấy nhiêu năm đất nước hòa bình, thôn 2 vẫn hầu như sống biệt lập với thế giới bên ngoài. Nơi ấy, 56 nhân khẩu sống quần tụ như một gia đình trong thung lũng Khe Sinh, bốn bề núi cao rừng thẳm. Đằng sau những rừng cây nguyên sinh ngút ngàn, xanh tươi, những con bò thủng thẳng gặm cỏ là cả một niềm khắc khoải, ước mong của những phận người, phận đời bám đất, bám làng nơi đây.
Ảnh: Trần Lâm
Nơi vừa đi, vừa tìm đường
Khi chúng tôi có ý định vào thôn 2 để tìm hiểu cuộc sống của người dân nơi đây, anh Hồ Văn Trường, Phó Bí thư Đảng ủy xã Trà Giang, nhìn chúng tôi với một ánh mắt đầy hoài nghi rồi "dọa": "Các anh nói thật hay đùa, muốn vào đó không đơn giản đâu, cuốc bộ 7km đường rừng. Nhưng tôi nói thật, vừa đi, vừa vạch lá tìm đường đó. Suy nghĩ kỹ rồi quyết định".
Bất chấp lời "đe dọa" của anh Trường, chúng tôi vẫn quyết định gửi xe máy lại ở Ủy ban xã để cuốc bộ vào với thôn 2. Thấy chúng tôi quả quyết đi bằng được, anh Trường cũng sắp xếp lại công việc và gọi thêm một đồng chí Công an xã đi dẫn đường.
Con đường vào và ra ở thôn 2 đều khó giống nhau, cả thảy một đoạn đường 7km, chúng tôi vừa đi, vừa ngã, những con đường nhỏ chỉ đủ một người đi, lởm chởm đá tai mèo. Từ trung tâm xã, thử thách đầu tiên mà chúng tôi phải vượt qua đó là một cây cầu treo, nghe anh Trường giới thiệu đây là cây cầu mà nhiều người dân trong thôn 2 và các em học sinh vẫn hay qua lại, tôi không khỏi giật mình. Một cây cầu "thân thiện với môi trường" đúng nghĩa, được làm bằng những thân cây chặt từ trong rừng, nó đơn giản đến mức không một bộ phận nào của cây cầu có liên quan đến vật liệu kim loại, từ dây cột đến các trụ chống đỡ. Qua cầu phải đi lần lượt từng người và vừa đi, vừa… "cầu nguyện".
Đường vào thôn 2, mà nói đúng hơn đó là một lối mòn, có những đoạn dốc dựng đứng chúng tôi phải trèo như vượt núi, lởm chởm bởi những hòn đá bự chắn ngang đường. Có những đoạn nằm cheo leo bên vực sâu phải nghiêng mình mới qua được. Cơn mưa rừng bất chợt ùa về làm cho đường trở nên trơn trượt. Vắt nhiều như rễ tre, chúng thi nhau nhảy vọt, bấu vào chân người mà hút máu.
Anh Hồ Văn Truyền, Phó Công an xã Trà Giang, một người chuyên qua lại đoạn đường này cũng phải lắc đầu ngao ngán: "Tôi đây đi thường xuyên, quen đường mà nhiều lúc cũng ngã lên ngã xuống, chứ huống chi mấy anh mới đi lần đầu. Cũng may cho mấy anh chị là mưa nhỏ đó, nếu mưa to thì khổ gấp nhiều lần".
Sau hơn 4 tiếng đồng hồ vừa đi, vừa ngã, chúng tôi cũng đã đến được nơi cần đến. Trông xa, thôn 2 mờ ảo hiện ra trong lớp sương núi, những căn nhà đơn sơ, xập xệ nằm "rúm ró" bên những tán rừng. Lâu nay sống cách biệt với thế giới bên ngoài nên khi thấy người lạ, những đưa trẻ cứ dáo dác, nhìn chằm chằm một lúc rồi chạy nép sau lưng mẹ. Ngôi nhà mà chúng tôi tìm đến đầu tiên là của Trưởng thôn Hồ Văn Đến. Thấy khách, ông Đến tay bắt mặt mừng, hồ hởi đón tiếp như thể người thân lâu ngày giờ mới được gặp lại.
"Ôi! Các anh chị, cán bộ đã không quản đường sá xa xôi vào đây thăm dân bản, chúng tôi mừng lắm. Bản tôi còn khó khăn, điện, nước, đường… cái chi cũng chưa có". Rồi chưa kịp để chúng tôi trả lời, ông Đến nói luôn: "Tối nay ở lại nhà tôi nhé, ăn với chúng tôi một bữa cơm". Dứt lời, ông bảo người con dâu đi lấy gạo rẫy, một thứ đặc sản của người Cor, chỉ để ăn chứ không bán, nấu đãi khách.
Khệ nệ bưng khay nước ra mời khách, ông Đến nhẩm tính, cả thôn chỉ vỏn vẹn có 14 nóc nhà với 56 nhân khẩu, bà con ở đây thiếu thốn đủ thứ, nước không, điện không, đường không và nhiều cái không khác mà nếu kể ra thì không giấy bút nào ghi hết. Cả bản duy chỉ có con ông là anh Hồ Văn Việt là học xong… lớp 12, giờ đang làm dưới xã, còn lại chỉ học đến lớp 4, 5 đã nghỉ vì do không có trường, đường đi lại khó khăn. Mặc dù bọn trẻ trong thôn rất muốn học, muốn biết con chữ, mà nói như những người dân ở đây là: "Rất muốn biết cái chữ để thoát nghèo, để biết được những cái văn minh của xã hội, nhưng sao khó quá!".
Những người dân ở đây chủ yếu trồng lúa, sắn, ngô nếp và những cây lâu năm như quế, keo tràm. Thế nhưng, vì không có đường nên hầu như những cây này không bao giờ được bán, nếu muốn bán một thứ gì đó là bị ép giá hoặc phải cõng về xuôi mới bán được. Ở đây cũng không có điện, không có nước sạch, không được theo dõi thông tin kịp thời và cũng không có điều kiện chăm sóc sức khỏe. Ngay như ông Đến, muốn họp hành gì ở dưới xã thì ông cũng phải đi từ rất sớm để kịp thời gian.
Giấc mơ về một con đường
Đêm ở thung lũng Khe Sinh, giữa bốn bề rừng núi, tiếng ếch nhái, tiếng côn trùng kêu rỉ rả tạo nên một bữa tiệc hòa nhạc giữa đại ngàn. Đêm nào cũng vậy, cứ hễ ăn cơm xong là dân bản lại tập trung ở nhà Trưởng thôn Đến để tụ họp, nói chuyện. Cả thôn chỉ vỏn vẹn 56 nhân khẩu và duy nhất gia đình ông Đến là có được ánh sáng điện nhờ chiếc máy tua-bin phát điện ở dưới suối. Còn lại, chiếc đèn dầu là vật không thể thiếu của người dân ở đây. Đang nói chuyện rôm rả thì chiếc bóng đèn tự dưng yếu dần và vụt tắt lịm. Biết rõ nguyên nhân, ông Đến phải rọi đèn pin ra suối gỡ hết rác đang ngăn dòng chảy, để tua-bin hoạt động trở lại.
Ông Hồ Văn Dũng (60 tuổi), lúc chúng tôi gặp ở đầu đường đi vào thôn nói như than: "Dân mình ở đây cực lắm, làm cái chi ra cũng không bán được, khổ lắm. Mình ở đây cái chi cũng không có, điện không, nước không, trường cho mấy đứa nhỏ đi học cũng không có… Cái chúng tôi mong muốn duy nhất bây giờ là có được một con đường để đi lại, chứ không có đường thì cực quá, đi đâu cũng phải cuốc bộ vạch lá tìm đường".
Niềm mong mỏi có một con đường của ông Dũng cũng là ước mong của tất cả những người dân thôn 2. Họ muốn Nhà nước quan tâm, giúp đỡ cho người Cor ở đây có được một con đường hoàn chỉnh để giao lưu, trao đổi hàng hóa với bên ngoài. Không có đường nên làm gì bà con ở đây cũng phải cõng luồn rừng.
Tôi ngửa mặt lên nhìn ngôi nhà của ông Đến được lợp bằng ngói, như đoán được tôi muốn hỏi gì, ông thủ thỉ: "Làm cái nhà này tôi phải nhờ đến anh em trong thôn cuốc bộ về dưới xuôi để cõng từng thứ lên đó. Ở đây muốn làm nhà phải chuẩn bị từ trước, bỏ ra một tháng để đi cõng vật liệu, từ xi măng, ngói, gạch… nhưng may là cát chúng tôi có sẵn ở đây".
Do không có đường nên trong thôn hầu như không có một phương tiện giao thông nào. Nằm lọt thỏm giữa thung lũng, được bao quanh bởi bốn bề rừng núi nên đất đai ở đây rất phì nhiêu. Cây lúa, hoa màu bà con gieo trồng nhanh phát triển nên cũng đủ ăn, rất ít gia đình thiếu đói. Những cây lâu năm như quế, keo, bời lời… phát triển rất tốt, năng suất cao, thế nhưng do không có đường nên hầu như những cây này không được bán.
Hôm lên với thôn 2, đi theo đoàn còn cả anh Hồ Văn Trường, cả chặng đường đi lúc nào anh cũng nói về chuyện người dân bị cô lập bởi do không có đường. Anh bảo, nếu chỉ cần có một con đường thì đời sống của đồng bào người Cor ở đây sẽ phát triển. Nhưng để làm được một con đường lên đến thôn 2 ở một xã nghèo như Trà Giang thì quả là một vấn đề lớn. Không làm được đường, chúng tôi kêu gọi người dân về xuôi để sinh sống, nhưng họ quyết bám đất, bám làng để mưu sinh. Bởi xuống núi, người Cor sợ không thích nghi được, không có đất để sản xuất, thế là lại phải ngậm ngùi cuốc bộ và nai lưng ra cõng.
Phải có một con đường lên với người Cor ở thôn 2, thì khi đó dân mới hết khổ được. Đó là mong ước lớn nhất của những người dân ở đây. Khi mặt trời vượt lên khỏi khu rừng già cũng là lúc chúng tôi rời thôn 2. Do không có con đường để giao thương với thế giới bên ngoài, nên khi chúng tôi chào từ biệt để ra về thì ai nấy cũng bịn rịn không muốn chia xa. Bởi với họ, có được người ngoài vào thăm thôn là một điều gì đó rất đáng quý.
Trần Lâm







