Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Chủ nhật, 17/05/2026 02:51 GMT+7

Anh hùng Nguyễn Trung Trực:

Khí phách trung nghĩa còn vang mãi

Biên phòng - Đền thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực nằm khiêm nhường trên khu đất nhỏ phía Nam Bắc đảo Phú Quốc. Mặc dù nằm khuất nẻo trên núi, nhưng ngôi đền vẫn luôn thu hút khá đông du khách khi tới thăm đảo Phú Quốc không chỉ bởi vẻ đẹp kiến trúc, phong cảnh tự nhiên hài hòa, mà còn bởi nghĩa khí của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực - người đã để lại những trang sử hào hùng trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta. 

5tun_9a-1.JPG
Đền thờ Nguyễn Trung Trực ở Phú Quốc. Ảnh: CTV

Từ thị trấn Dương Đông của huyện đảo Phú Quốc có 2 con đường để đến đền thờ Nguyễn Trung Trực. Chúng tôi chọn đi con đường mới mở phía Bắc đảo qua rừng nguyên sinh tới mũi Gành Dầu. Từ đây, chúng tôi men theo đường dốc lên núi khoảng chừng 2km là tới đền thờ Nguyễn Trung Trực, một công trình được xây dựng sớm nhất trong số 9 ngôi đền thờ vị anh hùng dân tộc này tại Kiên Giang.

Công trình kiến trúc này không quá đặc sắc, cũng không phải là địa điểm tham quan nổi tiếng ở Phú Quốc, mà là một đền thờ giản dị, khiêm nhường. Tuy nhiên, nó vẫn có một sức hút lớn đối với những người yêu thích lịch sử, ưa khám phá, tìm hiểu về những người anh hùng của dân tộc Việt Nam.

Bước qua khoảng sân rộng được bố trí nhiều chậu cây cảnh đẹp mắt, chúng tôi tới chính điện. Trong không khí thanh tịnh, tĩnh lặng, ông Ba, một trong những người trông coi đền cho chúng tôi biết, ngôi đền được xây dựng do công sức của chính quyền và toàn thể nhân dân xã Gành Dầu như một sự tri ân đối với vị anh hùng Nguyễn Trung Trực - một nhân vật lịch sử đáng kính có nhiều công lao to lớn đối với đất nước. Đền được xây dựng theo kiểu chữ tam, gồm chính điện rộng rãi, có tây lang và đông lang. Điện chính thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực và các bàn thờ thần linh cùng nhiều vị có công khác. Ngoài ra, còn có phòng thuốc Nam từ thiện.

Với lòng nhiệt thành sẵn có của người vùng biển, ông Ba dành cả tiếng đồng hồ kể cho chúng tôi nghe về thân thế và chiến công chói sáng của người anh hùng đang được thờ tự trong đền. Ông kể: Nguyễn Trung Trực sinh năm Đinh Dậu 1837, tại phủ Tân An, tỉnh Long An - mất năm Mậu Thìn 1868, tại Rạch Giá. Ông xuất thân trong một gia đình chài lưới ở hạ lưu sông Vàm Cỏ.

Năm 1861, hưởng ứng hịch Cần Vương chống Pháp, ông chiêu mộ rất nhiều nông dân nổi dậy đánh phá các đồn Pháp ở các vùng thuộc phủ Tân An. Do lập được nhiều chiến công, ông được triều đình Huế phong chức Quản cơ. Mọi người gọi ông bằng cái tên thân mật là Quản Chơn, vì lúc nhỏ ông có tên là Chơn, rồi từ năm Kỷ Mùi 1859 đổi là Lịch, còn Quản là chức Quản cơ.

Chỉ trong 7 năm (1861-1968), ông đã lãnh đạo phong trào kháng Pháp ở miền Tây Nam bộ, lập 2 chiến công lẫy lừng, làm lung lay Bộ chỉ huy quân sự của Pháp tại Việt Nam. Chiến công đầu tiên của ông là đốt cháy tàu L'Esperance, ngày 10-12-1862 trên sông Nhật Tảo. Sau chiến công đốt tàu chiến của địch, ông đổi tên là Nguyễn Trung Trực và cái tên này được nhân dân gọi cho đến ngày ông trút hơi thở cuối cùng.

Chiến công thứ hai của Nguyễn Trung Trực là hạ đồn binh Pháp ở Rạch Giá ngày 16-6-1868, phá vỡ bộ máy của thực dân Pháp ở Rạch Giá, làm chủ cai trị tỉnh lỵ 6 ngày. Ông Ba nói giọng thành kính: "Ngài bị Pháp bắt ở Bãi Ông Lạng, huyện Phú Quốc ngày 19-9-1868, sau đó bị giải về Sài Gòn giam ở khám lớn. Ngài đã khước từ mọi sự cám dỗ quyền thế, hưởng lạc xa hoa của giặc. Biết không thể lung lạc được ý chí và tinh thần yêu nước của ngài, giặc Pháp đã đưa ngài về Rạch Giá xử trảm ngày 27-10-1868 (28-8 âm lịch). Trước mặt kẻ thù, Nguyễn Trung Trực đã khẳng định chân lý bằng câu nói bất hủ đi vào lịch sử nước nhà: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người nước Nam đánh Tây".

Câu nói hào khí của chàng trai trẻ Nguyễn Trung Trực khi đó mới 31 tuổi đã khẳng định tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền của người dân Việt Nam. Trước khi bị xử trảm, Nguyễn Trung Trực còn ung dung đọc bài thơ tuyệt mệnh: "Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên/Yêu gian đàm khí hữu long tuyền/Anh hùng nhược ngộ vô dung địa/Bảo hận thâm cừu bất đái thiên". (Bản dịch của Đông Hồ là: Theo việc binh nhung thuở trẻ trai. Phong trần hăng hái tuốt gươm mài. Anh hùng gặp phải hồi không đất. Thù hận chang chang chẳng đội trời).

Được tin Nguyễn Trung Trực bị giặc Pháp xử tử, vua Tự Đức sai Hoàng giáp Lê Khắc Cẩn làm lễ truy điệu, đọc bài điếu với chính bút ngự rằng: "Giỏi thay người chài. Mạnh thay quốc sĩ. Đốt thuyền Nhật Tảo. Phá lũy Kiên Giang. Thù nước chưa xong. Thân sao đã mất. Hiệu khí xưa nay. Người nam tử ấy. Máu đỏ cát vàng. Hỡi ôi thôi vậy. Ngàn năm hương khói. Trung nghĩa còn đây".

Vua Tự Đức đã sắc phong ông làm Thượng Đẳng Linh Thần, thờ tại làng Vĩnh Thanh Vân, Rạch Giá, nơi ông đã hiên ngang thà chịu chết chứ không chịu đầu hàng giặc. Người dân Phú Quốc cũng vì ngưỡng mộ tài đức, khí tiết của anh hùng Nguyễn Trung Trực mà lập đền thờ ông ở Gành Dầu để được hương khói hằng ngày.

Tới thăm đền Nguyễn Trung Trực, anh Nguyễn Khánh Toàn, Đoàn công tác "Hành trình sinh viên với biển đảo Tổ quốc" bày tỏ sự ngưỡng mộ lòng yêu nước và ý chí bất khuất, quật cường, không chịu khuất phục kẻ thù của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Sau khi thành kính dâng hương tưởng nhớ vị anh hùng áo vải, Nguyễn Khánh Toàn viết vào sổ lưu niệm: "Chúng cháu xin hứa sẽ tiếp tục truyền thống của cha ông, gìn giữ bờ cõi đất nước, chủ quyền dân tộc với sức mạnh, ý chí và học thức của thanh niên, sinh viên Việt Nam".
Ngọc Lan

Bình luận

ZALO