Biên phòng - Tỷ lệ tăng từ 106,2 bé trai/100 bé gái trong năm 2000 lên 113,8/100 trong năm 2013 cho thấy, thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (hay còn gọi là tỷ số giới tính khi sinh) ở Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu giảm, thậm chí đang có xu hướng gia tăng, mặc dù đã có không ít các giải pháp được Chính phủ và các cấp, ban, ngành triển khai.
![]() |
| "Trao quyền", tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận, tham gia bình đẳng với mọi nguồn lực và cơ hội trong xã hội sẽ là giải pháp quan trọng nhất để xóa bỏ bất bình đẳng giới, giải quyết thực trạng gia tăng TSGTKS. |
Trong ba nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) gồm: Tâm lý ưa thích con trai, mức sinh thấp và tiếp cận với công nghệ lựa chọn giới tính, thì Việt Nam hiện hội đủ ba yếu tố trên. Trong đó, nguyên nhân mà mọi người đều dễ dàng nhìn thấy là việc lựa chọn giới tính thai nhi. Sự phát triển của công nghệ hiện đại, cùng với điều kiện kinh tế-xã hội ngày càng phát triển đang là điều kiện thuận lợi cho nhiều người có thể dễ dàng thực hiện "mong muốn có con trai" của mình.
Tuy nhiên, đây thực sự không phải là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự gia tăng TSGTKS. Điều này được minh chứng thông qua kết quả từ nhiều cuộc điều tra cho thấy, miền Nam là khu vực có trình độ khoa học kỹ thuật phát triển vượt trội nhất trong cả nước, nhưng lại là khu vực có TSGTKS không cao. Trong khi đó, vùng đồng bằng sông Hồng có TSGTKS cao nhất cả nước, vào khoảng 115,4 bé trai/100 bé gái, đặc biệt, khu vực nông thôn miền Bắc là vùng trọng điểm có số trẻ em trai sinh ra vượt trội so với trẻ em gái.
Kết quả này chính là sự phản ánh rõ nét nhất nguyên nhân căn bản của sự gia tăng TSGTKS xuất phát từ quan niệm bất bình đẳng giới đã ăn sâu, bám rễ trong tư tưởng truyền thống và các quan niệm văn hóa. Ở nhiều khu vực nông thôn miền Bắc, mong muốn và nhu cầu sinh con trai rất mạnh mẽ, bởi truyền thống gia đình theo kiểu phụ hệ với các lý do liên quan chặt chẽ tới vai trò của con trai trong các nghi lễ gia đình, thờ cúng tổ tiên, hay nhu cầu thực tế về lao động nam trong các gia đình nông thôn...
Điều đó cũng có nghĩa, đối với các hộ gia đình này, vai trò của con gái ít được coi trọng. Trong khi người miền Nam quan niệm, con nào cũng là con, miễn là chúng được sinh ra một cách khỏe mạnh. Tâm lý ưa thích con trai, tìm mọi cách để có con trai của các hộ gia đình theo kiểu phụ hệ này lại càng trở nên "bức bách" khi các quy định về kế hoạch hóa gia đình ngày càng được thắt chặt.
Thực tế, để giải quyết nguyên nhân cốt lõi của hiện trạng gia tăng TSGTKS xuất phát từ tâm lý ưa thích con trai của hệ thống gia đình phụ hệ không bao giờ là dễ dàng. Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng giới đã thay đổi một cách rõ nét trong vài thập kỷ qua ở một số quốc gia trong khu vực Đông Á đã minh chứng đây là cái đích hoàn toàn có thể thực hiện được.
Một ví dụ điển hình: Nhật Bản được biết đến như một quốc gia có sự phân biệt cố hữu giữa nam giới và nữ giới trong nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội. Nhưng, trong 50 năm qua, thông qua các cơ hội giáo dục và việc làm, điều kiện của phụ nữ đã được cải thiện rõ rệt. Hay Hàn Quốc, quốc gia có sự gia tăng TSGTKS nhanh chóng trong thập niên 1980 với tỷ lệ 115 bé trai/100 bé gái cũng có những cải thiện tương tự. Trong giai đoạn này, tình trạng mất cân bằng giới tính ở Hàn Quốc đã diễn ra giống như Trung Quốc, khi công nghệ xác định giới tính trước khi sinh trở nên sẵn có và việc cho phép loại bỏ các thai gái không mong muốn.
Tuy nhiên, từ những năm 1990, Chính phủ Hàn Quốc đã có sự vào cuộc quyết liệt với nhiều giải pháp đồng bộ. Cụ thể, là việc ra quy định, phá thai chọn lọc giới tính là bất hợp pháp và quy định này được áp dụng một cách chặt chẽ trong lĩnh vực y tế, đảm bảo việc tuân thủ nghiêm ngặt. Tiếp đến, một loạt các đạo luật về lao động việc làm và gia đình được đưa ra đồng bộ đã thúc đẩy bình đẳng giới ở nước này. Từ đó, tình trạng bất bình đẳng giới dần được cải thiện với tỷ lệ phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn, có thu nhập và công việc tốt hơn ngày càng tăng, dẫn đến tỷ lệ sinh hiện nay đã ở mức bình thường với 106 bé trai/100 bé gái.
Kinh nghiệm này của Hàn Quốc cho thấy, để bình ổn được TSGTKS, cần tập trung vào ba vấn đề chính: Tăng cường hiệu lực pháp luật trong việc cấm lựa chọn giới tính; ban hành các đạo luật mới về gia đình và việc làm, từ đó làm thay đổi sâu sắc môi trường chính sách; tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận với các cơ hội giáo dục và việc làm.
Nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc, các chuyên gia ở Việt Nam cho rằng, việc can thiệp pháp lý sẽ tác động đến đa số các vấn đề trong gia đình từ hôn nhân, thừa kế, giáo dục đến việc làm và vị thế chính trị. Trong pháp luật cũng như quan niệm của không ít người Việt Nam, con trai thường phải có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ. Vì vậy, sự hỗ trợ lâu dài của con trai là một nguồn an sinh không thể thiếu đối với người già, từ đó khiến các bậc cha mẹ không có con trai ở vào tình thế nguy cơ về vị thế kinh tế-xã hội. Sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ từ lâu đã được thể hiện bằng những khác biệt đáng kể trong việc tiếp cận nguồn lực và cơ hội, trong đó phụ nữ và trẻ em gái thường chịu thiệt thòi hơn.
Nếu cách tiếp cận pháp lý được coi như một giải pháp tiên quyết đạt mục tiêu bình đẳng giới, thì việc sử dụng các chiến dịch truyền thông đóng vai trò cầu nối không thể thiếu. Những chiến dịch này có thể nhằm vào những tập tục truyền thống trước đây như: Hệ thống hôn nhân, các nghi lễ hủ tục; hay nhằm vào các nhóm đối tượng nhất định: Cán bộ y tế, lãnh đạo chính trị, các gia đình có trình độ học vấn cao, các gia đình không có con trai...
Các chiến dịch truyền thông này mặc dù khó có thể mang đến những hiệu quả tức thời hoặc làm thay đổi thái độ xã hội trong thời gian ngắn, nhưng sẽ tạo nên một cấu thành cần thiết trong việc thay đổi hệ thống giới của xã hội, góp phần tạo nên môi trường mới, ở đó vai trò của phụ nữ được đánh giá cao hơn, thậm chí ngang bằng so với nam giới.
Trở lại hệ lụy của thực trạng mất cân bằng giới tính hiện tại tới cấu trúc dân số, cũng như sự phát triển và ổn định của đời sống kinh tế-xã hội đất nước trong tương lai có thể thấy, sự thiếu hụt số trẻ em gái sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt phụ nữ ở tất cả các nhóm tuổi trong tương lai. Nếu không có sự can thiệp kịp thời thì dự tính đến năm 2050, Việt Nam sẽ dư thừa từ 2,3 đến 4,3 triệu nam giới. Điều này sẽ kéo theo nhiều hệ quả nghiêm trọng.
Đó là những vấn nạn liên quan đến tệ nạn xã hội như mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em; vấn đề hôn nhân cận huyết thống; thiếu phụ nữ sẽ làm gia tăng áp lực buộc các em gái phải kết hôn sớm hơn, bỏ học để lập gia đình, đặc biệt là sự trì hoãn hôn nhân hoặc gia tăng tỷ lệ sống độc thân của nam giới. Và cũng chính hệ lụy nam giới sống độc thân sẽ dẫn đến những thay đổi lớn trong chức năng của cơ cấu gia đình phụ hệ, "phản lại" chính mục đích có con trai của hệ thống gia đình phụ hệ, vốn mong muốn phụ thuộc vào con trai để duy trì các thế hệ.
Bởi vậy, nói như ông A-thơ Ơ-ken, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam trong Lễ khởi động Chiến dịch truyền thông: "Chung tay giải quyết mất cân bằng giới" nhân hưởng ứng Ngày Quốc tế trẻ em gái (11-10): "Cách duy nhất để giải quyết tận gốc tình trạng gia tăng TSGTKS là "trao quyền" cho phụ nữ. Khi mà phụ nữ và các em gái được tiếp cận với chăm sóc y tế, giáo dục, cơ hội việc làm... một cách bình đẳng như nam giới thì họ sẽ có thể phát triển tốt và làm được những gì mà nam giới và trẻ em trai được mong đợi phải làm, thậm chí còn làm tốt hơn".
Tuy nhiên, "Nếu chỉ có phụ nữ thì không thể giải quyết được vấn đề, mà cần có sự hợp tác của nam giới trên tinh thần quan hệ đối tác. Nam giới cần phải được khuyến khích để trở thành những tác nhân thay đổi văn hóa xã hội", ông A-thơ Ơ-ken nhấn mạnh thêm.








