Biên phòng - Báo cáo mới đây của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân cho thấy, thời điểm này, doanh nghiệp (DN) Việt Nam vừa gặp khó khăn đặc biệt về vốn vừa tiếp tục đối mặt với những khó khăn nội tại từ trước liên quan đến nền tảng quản trị, công nghệ... Nhiều DN loay hoay tìm cách duy trì một phần hoạt động trước khi có thể tính tới phương án phục hồi toàn diện và phát triển.
Thực tế, các DN đang bước vào mùa sản xuất - kinh doanh cao điểm để phục vụ nhu cầu thị trường dịp cuối năm. Nhu cầu vốn của DN do vậy cũng tăng song không dễ tiếp cận hầu hết kênh huy động vốn. Điều này nếu kéo dài sẽ làm chậm tiến trình hồi phục sau đại dịch, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2023 và những năm tiếp theo.
Đơn cử như DN ngành thép phải bán sản phẩm thấp hơn giá vốn 30%-40% để có dòng tiền trong lúc chờ đợt phân bổ chỉ tiêu tín dụng tiếp theo. DN các ngành công nghiệp hỗ trợ trước đây có thể sử dụng hợp đồng đã ký kết hoặc thế chấp bất động sản để vay vốn nhưng ngân hàng hiện không giải ngân. DN ngành nông nghiệp thì khó tiếp cận được nguồn vốn để thu mua nguyên liệu trong khi một số loại nông sản có kỳ thu mua tập trung ở những tháng cuối năm và đầu năm sau...
Việc khó tiếp cận nguồn vốn ưu đãi trong chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội cùng động thái siết tín dụng thời gian qua đã đưa nhiều DN vào tình cảnh khó khăn. Không ít DN phải sang nhượng tài sản hoặc vay “nóng” với lãi suất cao để giải quyết nhu cầu vốn trong ngắn hạn, duy trì việc làm cho công nhân. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến trong tháng 11/2022, cả nước có 10.523 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2021.
Thế nên, không chỉ DN mà các ngân hàng thương mại đều đề xuất việc phân bổ hạn mức tín dụng nên tập trung vào lĩnh vực ưu tiên, khu vực sản xuất - kinh doanh; đồng thời có biện pháp kiểm soát, ngăn chặn cuộc đua lãi suất tiền gửi.
Nhưng trên thực tế, lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại vẫn duy trì ở mức cao để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng. Bởi dòng tiền bị tắc ở các kênh trái phiếu, chứng khoán trong khi khách hàng cá nhân đều có nhu cầu rút tiền về để chi trả, tiêu dùng cuối năm.
Nhiều chuyên gia chỉ ra, nếu tính cả hạn mức (room) tín dụng vừa được tăng thêm 1,5%-2%, thì tăng trưởng tín dụng chưa tới 12%, nghĩa là chưa đụng trần 14% chỉ tiêu cả năm. Mặt khác, tổng hạn mức tín dụng cho những tuần còn lại của tháng 12-2022 là khoảng 400.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy các NH thương mại chưa cho vay hết room và vẫn còn dư địa để cho vay thêm.
Tuy nhiên, việc cho vay thêm không dễ bởi huy động vốn đầu vào đang rất khó khăn trong bối cảnh thanh khoản trên hệ thống trong trung hạn vẫn chưa được cải thiện nhiều, lãi suất huy động đã tăng lên mức 9%-9,5%/năm, áp lực cho việc cân đối vốn từ phía các ngân hàng thương mại hiện rất lớn. Nói cách khác, việc nới room không đồng nghĩa với việc dòng tiền đến được với DN.
Để giải bài toán này, chuyên gia tài chính kiến nghị, Ngân hàng Nhà nước có thể cân nhắc “bơm” thêm thanh khoản cho hệ thống tổ chức tín dụng thông qua thị trường mở hoặc liên ngân hàng, từ đó các ngân hàng thương mại có thêm dư địa để cho vay. Đồng thời, sau khi nới room tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cần có biện pháp kiểm soát nhằm tránh cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi.
Động thái này sẽ gây áp lực tăng lạm phát của Việt Nam nhưng so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chỉ số lạm phát cơ bản tăng 2,38% so với cùng kỳ năm 2021 vẫn chấp nhận được. Do đó, mục tiêu lạm phát có thể được điều chỉnh nhằm hỗ trợ thanh khoản cho tổ chức tín dụng, từ đó có nguồn vốn đáp ứng nhu cầu cấp bách của DN trong tiến trình phục hồi và phát triển kinh tế đất nước.
Thanh Thảo







