Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 12:25 GMT+7

Khúc du ca từ trái tim người lính

Biên phòng - Tôi gặp Trung tá Đinh Thường, Chính trị viên Trạm KSBP Bến Bính, Đồn BPCK cảng Hải Phòng trong chuyến công tác của Điện ảnh BĐBP xuống làm phim tại đơn vị. Khi ấy, tôi chỉ thầm nghĩ rằng, cánh lính “quân hàm xanh” nhà mình thường thô mộc, ăn sóng nói gió, tự nhiên lại nảy ở đâu ra một ông Chính trị viên “đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên” đến lạ, không biết rồi sẽ giúp mình “điều quân, khiển tướng” thế nào để có thể ghi hình hoạt động của Trạm trên toàn tuyến sông Cấm!? Nhưng tôi đã uổng công lo lắng, bởi khi vào việc, anh đã giúp tôi nhiều hơn cả mong muốn.

 3309a.gif
Trung tá Đinh Thường
Khi chia tay, anh tặng cho đoàn chúng tôi một tập thơ anh đã viết trong suốt quãng thời gian 30 năm quân ngũ của mình có tựa đề “Hoa dã quỳ”. Và tôi chợt vỡ ra rằng, sự tinh tế, khéo léo mà tôi cảm nhận được từ anh chính là ở nguyên do này. Trong người lính ấy còn có một tâm hồn thơ đa cảm.

Sau ba năm kể từ ngày trình làng tập thơ đầu tiên “Hoa dã quỳ”, Đinh Thường chính thức trở thành hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật Hải Phòng. Anh còn “kiêm” thêm vai trò người đại diện của thi đàn “lucbat.com” tại Hải Phòng. Năng lượng thơ được tiếp lửa, Đinh Thường tiếp tục hành trình thơ ca của mình bằng một tập thơ mới: “ Trái tim trước biển ” (NXB Hội Nhà văn - quý 4/2011).

Đọc thơ Đinh Thường, điều khiến tôi đặc biệt chú tâm là những bài thơ anh viết về nhiệm vụ của mình. Chất lính đầy hào sảng sáng lên trong trang thơ của anh khi viết về những đêm giá lạnh người chiến sĩ biên phòng đi tuần tra qua các cánh rừng, nhưng vẫn mơ về những mùa xuân xốn xang tia nắng mới: “Chúng tôi đi qua cánh rừng thảng thốt mùa lá rụng/Vệt cháy ven đồi rát mặt những ngày xanh/Dốc ngược bi đông cạn nắng chiều biên ải/Mơ về mùa xuân cỏ tươi nao nức dưới chân người” (Ước mơ xuân). Đinh Thường đi vào cuộc sống đời thường với những cảm nghĩ rất thật, rất đời của người lính, chứ không “quan trọng hóa” công việc, dù đó là một công việc quan trọng được xã hội giao phó. Là Bộ đội Biên phòng, hẳn anh không ít lần đi tuần tra đêm trên biển đảo, nhưng cái đêm tuần tra khuya khoắt vẫn thấy mái nhà người mẹ liệt sĩ sáng ánh đèn như chờ đứa con trai đi xa bao năm chưa về, đã để lại trong lòng người chiến sĩ biên phòng bao suy tư, xúc động: “Nhà tình nghĩa cửa khép hờ/Xưa đèn dầu, giờ đèn điện/suốt bốn mươi năm vẫn sáng/Mẹ đợi người con trai duy nhất/ lúc lên đường quả quyết ngày trở lại/Đợi cả chúng tôi lặng lẽ bước đi tuần.../Chúng tôi toàn những thằng lộc ngộc/Bỗng trở thành con mẹ yêu thương/Và: Thưa mẹ, chúng con đã thay anh trở về từ buổi ấy/Nâng giấc cho người bớt trống trải cô đơn... (Đêm biên thùy).

Trước những thân phận không may mắn cảm nhận về cuộc sống quanh mình, có lẽ những câu thơ của Đinh Thường tuy có chút buồn, nhưng không vì thế mà sa vào “thương vay” dưới đây đã đọng lại trong mắt anh mỗi lần đi từ nhà đến đơn vị: “Lũ trẻ đánh giày quen tháng ngày bụi bặm/Túm tụm bên những quân bài bích-nhép-rô- cơ/ Phượng cứ say sưa đỏ, ve cứ mải miết ran – với chúng chỉ là những nỗi niềm xa xỉ/Cơm áo gia đình vẫn bỏng cháy ước ao” (Nghĩ về sắc phượng). Và anh thoáng ước mong khi nhìn màu hoa đỏ: “Đã tươi thắm, hãy tươi thắm cho đều khắp cõi nhân sinh”. Có lẽ chính từ những cảm nhận rất đời và hồn hậu của một người lính làm thơ đã mang lại cho anh những phút bừng sáng trên trang giấy với những câu thơ đẹp: “Bứng một vì sao đặt vào ô cửa/ Soi sáng mặt người tất tả mưu sinh/Chợt giật mình thời nào cũng thế/Thân rạ rơm vốn nặng nghĩa tình” (Chiều chợ huyện).

Dễ rung động, Đinh Thường cũng tạo được nhiều giọng điệu trong diễn tả cảm xúc, nên trong một tập thơ 54 bài, anh có tới bốn, năm cách thể hiện, khi là thơ có vần (Lục bát), khi là thơ tự do, lúc lại thơ văn xuôi... Dường như anh đang rong ruổi vào khu rừng xanh thi ca và đang cố gắng bằng nhiệt huyết trái tim mình tự phát cây, tìm lối mở lấy đường ra, chứ không cần sự dựa dẫm, bấu víu vào bất cứ cái gì. Thế nên dễ hiểu trong tập thơ này, Đinh Thường tung tẩy ngòi bút ở nhiều khía cạnh của đời sống, từ cái rất đời thường như một lần đi uống cà phê một mình, buồn đến mức: “Cà phê buồn đắng lên môi/Nhạt nhòe lên mắt, mặn trồi vào tim”. Đến những cái gắn kết với cộng đồng, với xã hội như khi lên núi Ba Vì, anh nghĩ ngay đến truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh: “Cỏ rơm mộng mị bao điều/Chắt trong thơm thảo nỗi yêu bời bời”. Hoặc khi đọc lại “Chiếu dời đô” của Lý Thái Tổ: “Ngàn sau chạm phải thế thời/Còn vang tiếng sấm bên trời heo may”.

Đến với thơ ca khi đã đi đến gần cuối hành trình tuần tra của đời mình, hành trình của người lính biên phòng đã từng lên rừng, xuống biển vì nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới, nhưng duyên thơ của người Chính trị viên quân hàm xanh này không vì thế mà kém mặn mà, đằm thắm. Yêu thơ và bền bỉ mở lối cho chính mình đến với thơ ca, anh không những đã có được những “tài khoản” thơ có giá trị, mà còn mở được những “tài khoản” của sự đồng cảm, của tình thi hữu trong lòng bạn bè đất Cảng.

Phạm Vân Anh

Bình luận

ZALO