Biên phòng - Trong khoảng 15 phút nói chuyện say sưa về những đền đài, tháp cổ, ông Nguyễn Công Hường, Trưởng ban quản lý di tích Mỹ Sơn, đã gần 10 lần nhắc đến cụm từ "bí ẩn", mặc dù ông đã công tác ở đây 20 năm. Vậy nên đối với du khách, đến Mỹ Sơn một lần chưa hẳn là "đã đến, đã biết".
| |
| Một bộ linga yoni tại chân tháp cổ. |
Thánh địa Mỹ Sơn nằm ở xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng gần 69km. Đây là trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của người Chăm Pa, khi kinh đô đặt tại Trà Kiệu hoặc Đồng Dương. Thung lũng này từng tồn tại 70 đền tháp. Những tháp đầu tiên được xây dựng bằng gỗ vào khoảng thế kỷ thứ IV và biến mất qua trận hỏa hoạn, chỉ còn các đền tháp xây dựng bằng gạch, đá thì sừng sững với thời gian.
Ông Nguyễn Công Hường giới thiệu báu vật mới được phát lộ từ lòng đất bí ẩn. Đó là chiếc mukha linga, trên đầu có gắn hình mặt thần Siva. Chiếc mukha linga cao 146,5cm, rộng 41,5cm, dày 41,5cm, gồm 3 phần tròn, bát giác và vuông, được tạc vào khoảng thế kỷ thứ VII. Sau một trận mưa lớn, gần chân tháp E4 đã phát lộ ra chiếc mukha linga nằm ngả theo sườn đồi. Theo các nhà khảo cổ học, đây là chiếc mukha linga độc đáo và còn khá nguyên vẹn, duy nhất được phát hiện tại khu vực Đông Nam Á.
Người Chăm Pa khi xây dựng đền đài đều hướng cửa tháp quay chính diện hướng Đông để đón ánh bình minh, nguồn gốc sinh lực của thần Siva. Tuy nhiên, tại sao cả 5 cụm tháp Mỹ Sơn đều quay lệch góc Đông Nam? Theo các nhà nghiên cứu, do kiến tạo địa chất khu vực này tạo ra các mảng trượt làm thay đổi vị trí của tháp. Từ đó, đặt ra giả thiết, người Chăm Pa đã bỏ khu đền đài này từ năm 1242, vì cho rằng, thần Siva đã rời bỏ vùng đất dâng thần.
Cụm từ "bí ẩn" còn được ông Hường nhắc đến, khi nói về tháp A1. Tháp chính cao 22m, toàn bộ phần trên cao 30m. Trên nóc tháp là một thanh dầm bằng đá nặng khoảng 24 tấn. Vậy thì, vào thời đó, người Chăm Pa đã sử dụng công cụ gì để có thể vận chuyển một khối đá nặng như vậy lên đỉnh tháp?
Hơn 100 năm kể từ ngày các nhà khảo cổ học người Pháp phát hiện ra Mỹ Sơn, đến nay, vùng đất "dâng thần của các vị vua" vẫn còn nhiều bí ẩn. Theo các nhà nghiên cứu, có thể dưới thung lũng thần linh này vẫn còn hiện hữu một Mỹ Sơn khác đã bị vùi lấp.
Giả thiết này được lập luận từ dự án khai thông suối Khe Thẻ vào năm 2005. Các nhà khảo cổ đã nín thở khi phát hiện gần 450 hiện vật chủ yếu bằng đá, gạch và ngói. Các nhà nghiên cứu đã đặt ra giả thiết có một tháp Chăm Pa đã bị chôn vùi? Nhưng một giả thiết khác lại cho rằng, đây là kho bãi để tập trung vật liệu xây dựng các tháp Chăm hoặc tháp đá B1.
Chất kết dính ngàn năm?
Đến thăm khu đền tháp Mỹ Sơn, du khách ghé chân thăm nơi đầu tiên là Nhà trưng bày giới thiệu di tích Mỹ Sơn. Ngôi nhà có diện tích 5.400m2 được các kỹ sư của Nhật Bản xây dựng bên ngoài cầu Khe Thẻ. Quy trình xây dựng ngôi nhà này, có chi tiết được mô phỏng theo tháp Mỹ Sơn, đó là các viên gạch ghép lại với nhau không sử dụng mạch hồ. Các kỹ sư Nhật Bản đã sử dụng keo 502 để kết dính gạch. Chất keo được sản xuất trong thời hiện đại xét ra thì vẫn thua xa chất kết dính của người Chăm Pa sản xuất từ ngàn năm trước. Đền đài Chăm Pa sừng sững suốt ngàn năm đều được xây dựng bởi một loại chất kết dính mà các nhà nghiên cứu vẫn còn đặt câu hỏi.
Trong một tài liệu, nhà nghiên cứu J.Y.Cla-ây viết trong bài thuyết trình vào năm 1939 về "Nghệ thuật kiến trúc Hin-đu ở Ấn Độ và Viễn Đông", đã giải mã chất kết dính để liên kết các viên gạch xây dựng trên tòa tháp Chăm, là hỗn hợp keo thực vật trộn với bột gạch. Nhưng ý kiến này vẫn chưa thỏa mãn giới nghiên cứu. Sau đó lại có ý kiến về việc người Chăm xây dựng tòa tháp bằng gạch chưa nung để tạo sự liên kết, sau đó dùng lửa để nung toàn bộ khối tháp. Lý giải điều này, nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh đặt giả thiết, chất kết dính để xây dựng tháp là mủ xương rồng trộn với mật mía.
Còn các nhà nghiên cứu Ba Lan đã mang mẫu kết dính giữa 2 viên gạch Chăm về Ba Lan và sử dụng phương pháp phân tích hiện đại như nhiễu xạ Rơgen, nhiệt vi phân, quang trắc phổ hồng ngoại để soi vào. Kết quả phân tích cho thấy, chất kết dính không có nguồn gốc hữu cơ, phát hiện có chất khoáng thạch anh và i lit như các mẫu lấy từ giữa viên gạch. Từ đó, các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận rằng, "tháp được xây dựng từ những viên gạch nung sẵn và gắn với nhau bằng một màng mỏng dung dịch đất sét đóng vai trò kết dính, sau đó toàn bộ được nung lại".
Trong quá trình trùng tu các đền tháp, để tạo nên nguyên trạng, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều loại nhựa cây như cây bồ lời được đưa vào trùng tu cụm tháp Dương Long ở Bình Định. Đây là loại nhựa mà thời xa xưa được người dân mang về làm dầu thắp sáng vì có thể cô đặc như ngọn nến. Nhưng có lẽ, nổi tiếng nhất vẫn là nhựa cây ô dước.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng loại nhựa này để trùng tu tháp Bình Thạnh ở Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Người xưa gọi nhựa cây ô dước là hợp chất bất khả phân ly. Công thức pha trộn nhựa ô dước hiện còn lưu giữ, đó là hợp chất được nhào trộn từ mật đường, vôi, nhựa cây ô dước. Nếu thiếu nhựa ô dước thì ngâm dây tơ hồng để tách ra một loại nhớt làm chất kết dính. Và đến đây thì các nhà nghiên cứu tạm thời với giả thiết, có thể chất kết dính để xây dựng đền đài của người Chăm là nhựa cây bồ lời hoặc ô dước?
Hơi thở trong làn điệu Chăm Pa
Ông Lê Xuân Tiến, hướng dẫn viên của khu đền tháp Mỹ Sơn, khi nghe khách tham quan trong đoàn nhắc "Thánh địa Mỹ Sơn" thì đã dừng lại và đính chính: "Xin thưa mọi người, đừng gọi là Thánh địa Mỹ Sơn, vì người Chăm Pa không thờ thánh mà chỉ thờ thần. Chúng ta phải gọi đúng tên, vì từ thế kỷ thứ IV, các vị vua Chăm Pa đã quyết định dâng thung lũng này cho thần, cứ mỗi vị vua thì xây dựng một đền đài".
Mỹ Sơn trở thành thung lũng ký ức ngàn năm. Nhưng tại đây vẫn có thể chứng kiến bước chân mềm mại, đôi bờ mi cong, nụ cười thần bí từ các thiếu nữ múa điệu Biyen, Tiaung được mô phỏng từ con công, con chim trĩ; điệu Wah gaiy mô phỏng từ cách chèo thuyền. Nhưng tiêu biểu nhất là điệu múa lu vang lên với bài "Bến nước tình yêu".
Mỗi lần đến Mỹ Sơn thì lại có thêm những khám phá mới. Đến Mỹ Sơn để hình dung ra ngàn năm trước, dòng người đã vượt núi, băng rừng, đối mặt với suối sâu, thú dữ để quần tụ với nhau và đi thành hình vòng tròn quanh khu đền đài linh thiêng gửi lời nguyện cầu về cuộc sống. Đến để đắm mình trong tiếng trống ghinăng, paranưng, kèn saranai, chìm đắm vào không gian u tịch, đưa mình "xuyên qua thời gian, chạm vào" đời sống, tín ngưỡng, kiến trúc, thẩm mỹ, nghệ thuật, sinh tồn... của tổ tiên từ thời xa xưa.






