Biên phòng - Nói là kỳ tích bởi sau 30 năm đổi mới, ngành Nông nghiệp Việt Nam đã làm nên cuộc cách mạng thần kỳ, đưa một nước từ chỗ thiếu đói trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới. Năm 2015 xuất khẩu gạo đạt khoảng 7 triệu tấn.
Từ một nước thiếu đói
Sau năm 1975, nước ta tiến hành chủ trương hợp tác hóa. Ruộng đất của nông dân được tập hợp lại để tổ chức canh tác tập thể dưới hình thức hợp tác xã. Máy móc nông nghiệp của nông dân được trưng mua để thành lập các tập đoàn phục vụ sản xuất nông nghiệp. Theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1976-1980), diện tích đơn vị sản xuất, tức hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc tăng gấp 2 đến 2,5 lần nhưng năng suất vẫn trì trệ. Từ năm 1976 đến 1980, dù sản xuất trong điều kiện đất nước không có chiến tranh, nhưng Việt Nam vẫn phải nhập 5,6 triệu tấn lương thực, thực phẩm.
Trong 5 năm tiếp theo, Việt Nam tiếp tục rơi vào cảnh thiếu lương thực. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Việt Nam không sản xuất đủ lương thực, phải nhập khẩu. Từ năm 1981-1985, Việt Nam phải nhập trên 1 triệu tấn lương thực. Nhưng chỉ sau 4 năm, nhờ thực hiện mạnh mẽ đường lối đổi mới do Đại hội VI (năm 1986) đề ra, Việt Nam đã xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo (năm 1990). Từ đó, tình hình lương thực và thực phẩm có chuyển biến tích cực, đáp ứng được nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân và cải thiện cán cân xuất, nhập khẩu.
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp. Đó là Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 18-3-2002 (Hội nghị Trung ương 5, khóa IX) về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Nghị quyết 26-NQ/TW (Nghị quyết Trung ương 7, khóa X) ngày 5-8-2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Trong đó, xác định "Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt cũng như lâu dài". Chính phủ cũng khẳng định, phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam. Trong đó, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
Với định hướng đúng đắn cùng những bước đi thích hợp, sản xuất nông nghiệp nước ta trong những thập kỷ vừa qua đã có bước phát triển vượt bậc. Thực tiễn 30 năm đổi mới cho thấy, thành tựu đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp là hết sức ấn tượng. Nước ta từ chỗ thiếu ăn, phải nhập khẩu lương thực, đến nay đã đủ ăn và có xuất khẩu, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và góp phần bảo đảm an ninh lương thực thế giới.
Theo số liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) của Liên hợp quốc, Việt Nam là một trong những nước đứng đầu thế giới về nhiều sản phẩm nông nghiệp như hạt tiêu, điều, gạo, cao su, đậu đỗ... Riêng gạo, những năm gần đây, nước ta xuất khẩu khoảng từ 5 đến hơn 7 triệu tấn mỗi năm.
Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp nước ta tập trung hơn và thị trường xuất khẩu rộng lớn hơn. Trước đây, sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ, sang thời kỳ đổi mới, ngành nông nghiệp triển khai theo hình thức sản xuất tập trung. Mô hình cánh đồng mẫu lớn đang được thực hiện, góp phần giảm giá thành sản xuất, giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật, tăng lợi nhuận. Đặc biệt, cánh đồng mẫu lớn còn giúp triển khai quy trình khép kín từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Thực hiện Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10-6-2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tái cơ cấu lĩnh vực nông nghiệp, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có kế hoạch chỉ đạo các địa phương tích cực triển khai thực hiện tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt.
Sau hơn một năm thực hiện, lĩnh vực này đã đạt được một số kết quả quan trọng. Bộ đã ban hành các cơ chế, chính sách, chương trình, đề án phục vụ cho tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt. Các sản phẩm chủ lực của lĩnh vực nông nghiệp như lúa gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, chè đã thực hiện tái cơ cấu và thu nhiều kết quả khả quan.
Đến nay, Việt Nam đã sản xuất lúa được cả 3 vụ/năm, trên phạm vi toàn quốc. Sản lượng lúa năm 2015 ước đạt gần 45,22 triệu tấn, tăng 241 tấn so với năm 2014. Hiện, Việt Nam đang tiếp tục thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ diện tích sản xuất các loại cây trồng kém hiệu quả, các loại giống năng suất, chất lượng thấp sang các loại cây trồng có năng suất, chất lượng cao hơn, thị trường thuận lợi hơn.
Có thể nói, trong những năm qua, ngành Nông nghiệp đã có những đóng góp quan trọng và ngày càng khẳng định vị thế trong kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Ngành Nông nghiệp Việt Nam giờ đây đã đa dạng hóa phát triển, không còn là ngành thuần nông, mà đã mở rộng phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày. Kim ngạch xuất khẩu của ngành Nông nghiệp chiếm khoảng 1/5 kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Năm 2014, tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta đạt trên 150 tỉ USD, trong đó, kim ngạch xuất khẩu của ngành Nông nghiệp đạt 30,8 tỉ USD. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp tiếp tục được giữ vững, với tổng giá trị 30,13 tỉ USD. Hiện, Việt Nam có 10 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD (gạo, cà phê, cao su, điều, tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra, lâm sản).
Đến cuối năm 2015, nông sản của Việt Nam đã có mặt tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ... Với 24 mặt hàng nông nghiệp thực phẩm, đứng từ hàng thứ nhất đến thứ 10 thế giới, điều đó cho thấy vai trò rất lớn của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cũng như thành tựu to lớn mà ngành Nông nghiệp đã đạt được trong 30 năm qua.
Nguyễn Bích







